Giảng Kinh

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Quyển 9
“Tha phương chư đại Bồ Tát” (Các vị đại Bồ Tát ở phương khác). Trong kinh luận có thói quen là nếu thêm chữ Đại vào trước Bồ Tát, chắc chắn vị ấy là Địa Thượng Bồ Tát thì mới gọi là Đại. Đó là một thông lệ trong Phật môn. Chúng ta thường gọi các Ngài là Bồ Tát Ma Ha Tát. Ma Ha (Mahā) là Đại, đại Bồ Tát được nói ở đây chính là Ma Ha Tát (Mahāsattva). Nói Bồ Tát tức là nói tới [các Bồ Tát thuộc những địa vị] Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, đó là các Bồ Tát thuộc địa vị Tam Hiền  Xem: 78 

Kinh Sách Liên Quan
Kinh A Di Đà Sớ Sao , Hòa Thượng Thích Hành Trụ
A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Quyển 1 , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

A Di Đà Kinh Yếu Giải
Bộ kinh này dùng người nói ra kinh và người bị nói đến trong kinh để đặt thành cái tên đề của bộ kinh là “Phật thuyết A Di Ðà kinh”. Chữ “Phật” ở đây nghĩa là gì? Chữ “Phật” ấy là đức giáo chủ, người nói ra bộ kinh này, tức là đức Thích Ca Mâu Ni, Ngài theo sức mạnh của lời thề nguyện và lòng thương xót hết thảy, mà Ngài giáng sinh vào trong đời đầy cả năm uẩn độc ác. Ngài là người giác ngộ trước tiên, Ngài giác ngộ cho người sau cũng giác ngộ như Ngài; không có một pháp nào mà Ngài chẳng biết rõ, thấy rõ. Chữ “thuyết” là Ngài vui lòng mà nói ra. Phật lấy việc cứu độ chúng sinh làm vui lòng nhất. Cơ hội chúng sinh được thành Phật đã đến rồi, nên Ngài mới nói cái phép tu rất khó tin này cho mà nghe, để cho chóng được giải thoát rốt ráo, cho nên Ngài rất vui lòng mà nói. Chữ “A Di Ðà” là tên của đức Ðạo Sư ở quả đất bên kia, là người bị nói đến trong bộ kinh này, tức là đức A Di Ðà người đã dùng 48 lời thệ nguyện để tiếp dẫn những chúng sinh có lòng tín, nguyện, niệm Phật cho sinh về thế giới Cực Lạc, được vĩnh viễn lên ngôi Bất Thoái.  Xem: 145 

Kinh Sách Liên Quan
Kinh A Di Đà , Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
A Di Kinh Lược Giải , Ban Phiên Dịch Vạn Phật Thánh Thành
Kinh A Di Đà Sớ Sao , Hòa Thượng Thích Hành Trụ
A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Quyển 1 , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
A Di Đà Kinh Yếu Giải Giảng Ký , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
A Di Đà Kinh Hợp Giải , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

A Di Kinh Lược Giải
Mỗi bộ kinh có tên riêng và tên chung. Tên riêng thì chỉ đặc biệt bộ kinh ấy có; tên chung là tên phổ thông kinh nào cũng có. Tên riêng là gì? Như tên "Phật thuyết A Di Đà" chính là tên riêng, chỉ có bộ kinh này được gọi thôi, còn những kinh khác thì không. "Kinh" là tên chung, tên chung này kinh nào cũng có. "Chung" là chung của các kinh, "riêng" là chỉ riêng của kinh này. Không nên xem thường bộ kinh này, vì là kinh thường tụng vào buổi chiều trong chùa. Nhất là kinh này lại là của Phật nói ra. Có năm hạng người có thể nói kinh:  Xem: 195 

Kinh Sách Liên Quan
A Di Đà Kinh Yếu Giải , Hòa Thượng Thích Tuệ Nhuận
Kinh A Di Đà Sớ Sao , Hòa Thượng Thích Hành Trụ
A Di Đà Kinh Hợp Giải , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Kinh A Di Đà , Hòa Thượng Thích Trí Tịnh

Kinh A Di Đà Sớ Sao
Bản thể của tự tính là: Linh (linh thiêng), Minh (sáng suốt), Đổng (rỗng rang), Triệt (thông thấu), Trạm (trong trẻo). Tịch (vắng lặng), Thường (còn), Hằng (lâu), chẳng phải trược, chẳng phải thanh, không lui, không tới, rất lớn thay cái chơn thể của nó không thể nghĩ bàn được, phải chăng chỉ có tự tánh của chúng ta mới như vậy?   

Kinh Sách Liên Quan
A Di Đà Kinh Yếu Giải , Hòa Thượng Thích Tuệ Nhuận
A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Quyển 1 , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
A Di Đà Kinh Hợp Giải , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Kinh A Di Đà , Hòa Thượng Thích Trí Tịnh

A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Quyển 1
Trước hết, chúng tôi nói đại lược cội nguồn [tác phẩm này] cho quý vị biết. Kinh này là do Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật giảng tại tinh xá Kỳ Viên ở nước Xá Vệ, tôn giả A Nan kết tập, chép thành Phạn bản. Sau khi kinh được truyền đến Trung Quốc, nguyên văn tiếng Phạn được dịch sang tiếng Hán bởi một vị pháp sư là Cưu Ma La Thập đại sư. Từ xưa đến nay, bộ kinh này có rất nhiều bản chú giải. Sau khi đọc đến phần văn bản chính thức, chúng ta sẽ thảo luận [vấn đề này]. Cuốn Sớ Sao này do vị tổ sư đời thứ tám của Tịnh Độ Tông, sống vào đời Minh, là Liên Trì đại sư biên soạn. Sớ là giải thích kinh, chú giải kinh.  Xem: 214 

Kinh Sách Liên Quan
Kinh A Di Đà Sớ Sao , Hòa Thượng Thích Hành Trụ
A Di Đà Kinh Hợp Giải , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

A Di Đà Kinh Yếu Giải Giảng Ký
Trong quá khứ, khi kinh Vô Lượng Thọ chưa được lưu thông phổ biến thì những kinh điển để người tu học Tịnh Tông nương tựa chính là A Di Đà Kinh, sách Di Đà Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư và Di Đà Kinh Sớ Sao của Liên Trì đại sư. Trong gần một ngàn năm, những người tu học Tịnh Tông có thể thành tựu chính là nhờ vào hai bộ chú giải ấy, nhất là bộ Di Đà Yếu Giải trọn đủ thẩm quyền . Trong quá khứ, Ấn Quang đại sư đã đề cao Di Đà Yếu Giải đến tột bậc. Ngài nói: “Dẫu cho A Di Đà Phật giáng thế viết chú giải cho A Di Đà Kinh, cũng chẳng thể hay hơn tác phẩm này”.  Xem: 82 

Kinh Sách Liên Quan
Kinh A Di Đà , Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
A Di Đà Kinh Yếu Giải , Hòa Thượng Thích Tuệ Nhuận
A Di Đà Kinh Hợp Giải , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

A Di Đà Kinh Hợp Giải
Trong các kinh điển Ðại Thừa được lưu truyền rộng rãi, xét về mức độ được giảng giải, trì tụng, có lẽ kinh Di Ðà chỉ kém Tâm Kinh Bát Nhã. Từ trước đến nay, trong các tùng lâm, kinh Di Ðà vẫn thường được tụng vào mỗi thời công phu tối và hầu như bất cứ vị Tăng Ni thuộc truyền thống Bắc Tông nào cũng đều thuộc lòng kinh Di Ðà. Bổn Sư của mạt nhân kể rằng: Trong thời gian làm điệu, ngoài bản Sa Di Tỳ Ni, Hòa Thượng viện chủ bắt các điệu phải học thuộc lòng Di Ðà đến nỗi có thể đọc từ chữ cuối ngược lên đầu kinh mà không vấp. Khi học chữ Hán, văn bản đầu tiên Hòa Thượng dùng để dạy các điệu cũng là kinh Di Ðà. Khi Hòa Thượng còn tại thế, dù tụng kinh gì đi nữa, mỗi ngày đại chúng trong chùa đều phải tụng Di Ðà ít nhất một lần.  Xem: 118 

Kinh Sách Liên Quan
A Di Đà Kinh Yếu Giải , Hòa Thượng Thích Tuệ Nhuận
A Di Kinh Lược Giải , Ban Phiên Dịch Vạn Phật Thánh Thành
Kinh A Di Đà Sớ Sao , Hòa Thượng Thích Hành Trụ
A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Quyển 1 , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
A Di Đà Kinh Yếu Giải Giảng Ký , Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa


Vãng Sanh Tịnh Ðộ Luận Giảng Yếu
Trong Vãng Sanh Luận, Tổ Thiên Thân đã chỉ rõ phương pháp Lễ Bái, Tán Thán, Tác Nguyện, Quán sát và Hồi Hướng và Ngài Thái Hư Ðại Sư Giảng yếu chỉ thẳng Ðại Thệ Nguyện của Phật A Di Ðà và chỗ triệt để của Bồ Tát Thiên Thân, nếu không phải là bậc thấu triệt Tâm Phật, được vô ngại biện tài như Ngài Thái Hư thì không ai có thể làm nổi. Pháp môn tịnh độ từ xưa nay vốn là nơi quy thú của các pháp môn, vì thế, ở hội Hoa Nghiêm các bậc đẳng giác Bồ Tát còn lấy mười Ðại Nguyện Hồi hướng vãng sanh.  Xem: 93 

Kinh Sách Liên Quan
Vãng Sanh Luận , Đại Sư Ấn Thuận
Vãng Sanh Tịnh Ðộ Luận Giảng Ký , Hòa Thượng Thích Nhất Chân

Phổ Môn Lược Giảng
Phẩm Phổ Môn là phẩm thứ hai mươi lăm, nhưng trong bản kinh văn xưa thì là thứ hai mươi bốn, vì trong đó thiếu một phẩm Ðề-Bà-Ðạt-Ða (phẩm thứ mười hai). Phẩm Phổ Môn diễn bày công đức thần thông diệu dụng và cảnh giới không thể nghĩ bàn của Bồ Tát Quán Thế Âm. Có mười nhân duyên nói phẩm Phổ Môn này; đó là 1) Nhân Pháp, 2) Từ Bi, 3) Phước Huệ, 4) Chơn Ứng, 5) Dược Châu, 6) Hiển Mật, 7) Quyền Thật, 8) Bản Tích, 9) Duyên Liễu, và 10) Trí Ðoạn.  Xem: 104 

Kinh Sách Liên Quan
Phổ Môn Giảng Lục , Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm

1234