Tôi Đọc Báo Bồ Đề Thụ Số Ra Tháng Sáu Trong Số Báo Hai Trăm Bảy Mươi Mốt Nửa Sau Của Trang Hai Mươi... Lão Cư Sĩ Lý Bỉnh Nam | Dịch Giả :Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa | Xem: 3


Câu Hỏi

Tôi Đọc Báo Bồ Đề Thụ Số Ra Tháng Sáu Trong Số Báo Hai Trăm Bảy Mươi Mốt Nửa Sau Của Trang Hai Mươi Sáu Dòng Thứ Nhất Tính Từ Bên Phải Qua Đã Viết: “Do Thử Ngã Môn Đại Thể Khả Dĩ Liệu Giải Long Thọ Sở Phá Xích Kỳ Hướng Dĩ Cập Kỳ Sở Yết Trư Đích…” (Do Vậy Về Đại Thể Chúng Ta Có Thể Hiểu Rõ Ý Hướng Và Mục Tiêu Trong Việc Đả Phá Bài Xích Của Ngài Long Thọ) Hai Chữ “Kỳ Hướng” (蘄向) Trong Ấy Phát Xuất Từ Điển Tích Nào? Hãy Nên Giải Thích Như Thế Nào?

Trả Lời

Đối với đoạn văn do ông đã hỏi, xét ra thuộc loại bài viết gởi tới; vốn có thể dựa theo mặt chữ để giải thích, nhưng sợ trong ấy còn chứa đựng ý nghĩa sâu xa. Tôi đã từng sai người đến thăm, thỉnh giáo [tác giả], nghe nói vị ấy gần đây đã sang Nhật Bản, chỉ đành đợi đến khi ông ta về nước, sẽ đem thư của ông giao lại, xin chính tác giả giải đáp thì mới chẳng bị lầm lẫn!

Phụ lục: Trả lời giản lược những câu hỏi của cư sĩ Vô Sở Đắc

(tác giả Lam Cát Phú)

1) Bài văn vụng về của tôi được đăng trên báo Bồ Đề Thụ vào tháng Sáu, đối với câu “do thử, ngã môn đại thể khả dĩ liệu giải Long Thọ sở phá xích (chi) kỳ hướng…”, trước chữ “kỳ hướng” (蘄向) hãy nên có một chữ Chi (之), nhưng bản in vào tháng Sáu đã bỏ sót.

2) Chữ “kỳ hướng” thuộc loại từ ngữ phổ thông, hoàn toàn chẳng phải là danh từ Phật học.

3) Chữ “kỳ hướng” có ý nghĩa gần giống như “ý hướng” (意向), “kỳ” (蘄) là “cầu” (xem Kinh Tịch Toản Hỗ quyển bốn).

4) Chữ “kỳ hướng” (蘄向) có ý nghĩa hoàn toàn tương đồng với “kỳ hướng” (祈嚮, hướng đến, dẫn đến, mong mỏi). Chữ Kỳ (祈) viết theo lối cổ có khi viết thành Tiệm (嶄). Chữ Kỳ (祈) cũng có nghĩa là “cầu” (xem Quảng Nhã, phần Thích Hỗ, quyển ba).

Do đó, hai chữ (蘄 và 祈) thật sự là một. Âm, nghĩa của Hướng (嚮) và Hướng (向) hoàn toàn giống nhau, cũng là những chữ quen thuộc của người thông thạo. Từ ngữ Kỳ Hướng (祈嚮) có thể thấy trong sách Trang Tử, chương Thiên Địa: “Nhi kim dã, dĩ thiên hạ hoặc, dư tuy hữu kỳ hướng, bất khả đắc dã” (Như trong hiện thời, do thiên hạ lầm lạc, dẫu tôi có mong mỏi, cũng chẳng thể thực hiện được).

5) “Kỳ hướng” (蘄向) tuy là từ ngữ thông dụng của người hiện thời, nhưng khi nào, do người nào bắt đầu đổi chữ Kỳ Hướng (祈嚮) thành Kỳ Hướng (蘄向) thì tôi không biết.

Một câu hỏi của cư sĩ Lâm Bá Tu ở Đào Viên