Trùng đính Tây Phương công cứ
Hán Văn: Dật Nhân Pháp Sư
Việt Văn: Như Hòa

Lời tựa bản Trùng Đính Tây Phương Công Cứ

            Một quyển Tây Phương Công Cứ lưu truyền đã lâu, những lời bàn luận được trích tuyển hoặc rườm rà hoặc giản dị chẳng đồng. Có bản thì in kinh Di Đà, chú Vãng Sanh ở đầu sách. Cũng có bản chẳng in. Nhưng các bản đều in hình Tam Thánh, chín phẩm đài sen có những chấm tròn để người chấm vào ghi nhớ số [lần niệm Phật]. Phần lớn các bản, trong đài sen chín phẩm đều vẽ một tượng Phật. Sau đấy mới chọn đăng những lời khai thị thiết yếu tự xưa nay, và hiển minh sự tích nhằm khiến mọi người ưa thích, sanh tín, nguyện quyết định, được điều quyết định ấy dùng làm tư lương vãng sanh. Dụng ý thật là sâu xa, chu đáo. Nhưng khi niệm đủ số, hoặc sau khi chết đi, liền đem đốt đi, chẳng hề biết mình phạm lỗi hủy hoại kinh, tượng. Nên một cuốn sách tốt lợi người rốt cuộc phó cho mồi lửa, chẳng thể khắp lợi ích. Nếu lưu lại để truyền cho đời, thì đã khuyên chấm đen đúa bời bời, khó khiến người ưa thích. Suy đi tính lại, khó tìm được cách thích hợp. Bạn tôi là ngài Dật Nhân, riêng lập ra chương trình san định sách này: đầu sách dẫn kinh, chú, nghi thức niệm Phật, rồi nêu các lời khai thị xưa nay [nghĩa lý] rõ ràng hay kín nhiệm, ý tứ cạn hay sâu. Rồi lại chú trọng đến một phương pháp lâm chung trợ niệm ngõ hầu tránh cho [người niệm Phật] sắp đến kỳ công phu thành tựu, lại bị quyến thuộc vô tình phá hoại. Rồi nêu tam quy, ngũ giới, thập thiện, tứ đế, tứ liệu giản. Mỗi phần đều giải thích sơ lược. Và trăm bài tụng niệm phật. Những mong người sơ phát tâm biết đại khái ý nghĩa, soạn thành một bản để làm sách lưu truyền vĩnh viễn. Còn các bức vẽ chín phẩm niệm Phật ghi số thì in thành bản riêng, thành phụ bản của phần chính, để giúp hành giả nhớ số cùng để mai sau [niệm xong] thì thiêu đi. Phép này rất hay, đáng nên in ra để rộng lưu hành, kính biếu. Những mong hết thảy người cùng hạnh, cùng được vãng sanh. Phải biết là cái lợi ích Tịnh Độ, ngoài Phật ra không ai biết trọn. Thế nên, trong kinh Hoa Nghiêm sau khi đã chứng Đẳng Giác, còn dùng mười đại nguyện vương hồi hướng vãng sanh. Trong Quán kinh, lúc sắp đọa địa ngục, niệm chưa hết mười tiếng liền được dự vào chín phẩm. Thật đúng là mười phương tam thế hết thảy chư Phật, trên thành Phật đạo, dưới độ chúng sanh, không vị nào chẳng nhờ vào pháp này làm đầu, mà rốt ráo cũng quy về pháp này vậy. Khắp nguyện những người cùng hạnh cùng sanh chánh tín.

Dân quốc năm thứ mười chín (1930), Canh Ngọ, giữa mùa Thu, Cổ Tân Thích Ấn Quang soạn


Trùng Đính Tây Phương Công Cứ

            Số lượng pháp môn tu trì rất nhiều, nhưng thật ổn đáng không chi bằng niệm Phật. Cái mầu nhiệm của pháp niệm Phật là quý tại tín, nguyện. Tín, nguyện chơn thành, thiết tha, vạn người tu, vạn người đạt. Niệm làm chánh hạnh. Tín, nguyện phụ trợ. Ba pháp đầy đủ, quyết định vãng sanh. Cạn tấc lòng thành như con nhớ mẹ, cảm ứng đạo giao, chóng siêu sanh tử.

Thích Dật Nhân kính đề


 Nam mô Liên Trì Hải Hội Phật, Bồ Tát (3 lần)

Phật nói kinh A Di Đà

(lược phần này không dịch)

Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bổn đắc sanh tịnh độ đà ra ni

(chú Vãng Sanh)

            Nam mô a mi đa bà dạ, đá tha già đá dạ, dá dđịa dạ tha, a mi rị đô bà tì, a mi rị đá tất đam bà tì, a mi rị đá, tiì ca lan đế, a mi rị đá tì ca lan đá, già mi nị, già già na, chỉ đa ca lệ, sa bà ha.

Niệm Phật khởi chỉ nghi

(Nghi thức niệm Phật)

      Kệ tán Phật
            A Mi Đà Phật thân kim sắc,
            Tướng hảo quang minh vô đẳng luân
            Bạch hào uyển chuyển ngũ tu di,
            Cám mục trừng thanh tứ đại hải
            Quang trung hóa Phật vô số ức
            Hóa bồ tát chúng diệc vô biên
            Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh
            Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn


            Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ, đại bi A Di Đà Phật
            Nam mô A Di Đà Phật (hoặc năm trăm tiếng, một ngàn tiếng, dù ít hay nhiều cần phải chhí thành khẩn thiết. Từng câu, từng chữ cần phải từ trong tâm niệm ra).

Nam mô Quán Thế Âm bồ tát (10 tiếng)
Nam mô Đại Thế Chí bồ tát (10 tiếng)
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải chúng bồ tát (10 tiếng, rồi tiếp tục tụng bài nguyện)

Ngã kim xưng niệm A Di Đà
Chơn thật công đức Phật danh hiệu
Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ
Chứng tri sám hối cập sở nguyện
Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp
Giai do vô thỉ tham, sân, si
Tùng thân, ngữ ý chi sở sanh
Nhất thiết ngã kim giai sám hối.
Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời
Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại
Diện kiến bỉ Phật A Di Đà
Tức đắc vãng sanh An Lạc sát
Bỉ Phật chúng hội hàm thanh tịnh
Ngã thời ư thắng liên hoa sanh
Thân đổ như lai Vô Lượng Quang
Hiện tiền thọ ngã bồ đề ký
Mông bỉ như lai thọ ký dĩ
Hóa thân vô số bách câu chi
Trí huệ quảng đại biến thập phương
Phổ lợi nhất thiết chúng sanh giới


(Tạm dịch:
Con nay xưng niệm A Di Đà,
Danh hiệu Phật công đức chơn thật.
Xin nguyện từ bi thương nhiếp thọ
Chứng biết con sám hối, phát nguyện
Con xưa trót tạo bao ác nghiệp
Đều do vô thỉ tham, sân, si
Từ thân miệng ý phát sanh ra
Hết thảy con nay đều sám hối
Nguyện con vào lúc sắp lâm chung
Trừ sạch hết thảy các chướng ngại
Tận mặt thấy Phật A Di Đà
Liền được vãng sanh cõi An Lạc
Chúng hội của Phật trọn thanh tịnh
Con được sanh trong hoa sen nhiệm
Được thấy như lai Vô Lượng Quang
Hiện tiền thọ ký quả bồ đề
Con được Như Lai thọ ký xong
Hóa thân vô số trăm câu chi
Trí lực rộng lớn trọn mười phương
Khắp lợi hết thày chúng sanh giới)

Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo phát vô thượng tâm.
Tự quy y pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải.
Tự quy y tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại

(Hành trì như thế, mỗi ngày hoặc hai lần, hoặc bốn lần, hoặc sáu lượt, dốc trọn vẹn lòng thành kính, tùy phận, tùy sức thực hiện. Người như vậy quyết định vãng sanh).
 

Phụ lục Thập niệm pháp môn

(Pháp mười niệm này, ai ai cũng tu nổi, người bận rộn thì nên mỗi khi sáng, tối, thành tâm thực hành, quyết định vãng sanh).

Mỗi ngày sáng, tối hai thời, súc miệng xong. Nếu không có tượng Phật thì hướng về phương Tây xá, bái. Có tượng Phật thì lễ Phật ba lạy, quỳ thẳng ngay ngắn, chắp tay, cung kính, dứt bặt các duyên, nhiếp tâm một chỗ, liên tiếp niệm Nam mô A Di Đà Phật cho đến hết một hơi thì coi là một niệm. Mười hơi như thế gọi là thập niệm. Chỉ tùy theo hơi dài, ngắn, chẳng nệ vào số lần niệm Phật, lấy hơi thở làm hạn. Tiếng niệm chẳng cao, chẳng thấp, chẳng gấp, chẳng hoãn, nhịp nhàng, vừa phải, liên tục chẳng dứt. Ý nương theo hơi thở để gìn tâm, khiến tâm chẳng tán loạn. Tâm đã thuần nhất, công chẳng lớn lao hay sao? Pháp mười niệm này, khi đức Di Đà còn tu nhân, có nguyện rằng: ‘Nếu có chúng sanh, nghe danh hiệu ta, chí tâm tin ưa, thậm chí mười niệm. Nếu chẳng vãng sanh, chẳng lấy ngôi chánh giác’. Vì thế, hành giả trọn đời thọ trì chẳng để gián đoạn, kẻ ấy khi lâm chung, đức Phật vì bổn nguyện lực, đích thân đến tiếp dẫn vãng sanh Tây phương. Một khi đã sanh tây phương liền chứng địa vị bất thoái, vĩnh viễn thoát cái khổ sanh tử, luân hồi vậy. Trân trọng, trân trọng. Niệm xong lại hồi hướng rằng:

Nguyện con lúc lâm chung không chướng ngại. A Di Đà Phật xa đón, Quán Âm rưới cam lộ trên đầu con, Thế Chí đặt đài vàng dưới chân con. Trong khoảng sát na, lìa ngũ trược, như khoảng co duỗi cánh tay, về đến ao sen. Hoa sen nở rồi được thấy Từ Tôn, đích thân nghe được pháp âm rành rẽ. Nghe xong liền ngộ vô sanh nhẫn, chẳng rời An Dưỡng, vào lại Sa Bà, khéo biết phương tiện cứu độ chúng sanh. Tận sức bao kiếp làm Phật sự. Con nguyện như thế, xin Phật tự biết. Rốt ráo trong tương lai  sẽ được thành tựu.

1. Văn Thù dạy răn (ba mươi bảy thiên tiếp theo đây, đều do Đại Hựu thiền sư trích từ sách vở của các bậc cổ đức, rất hay chớ xem thường)

Trong niên hiệu Đại Lịch đời Đường, Pháp Chiếu pháp sư đi lễ núi Ngũ Đài, ngài Văn Thù ứng hiện nơi Đại Thánh Trúc Lâm Tức, chiếu sáng cả giảng đường. Sư thấy ngài Văn Thù ở phía Tây, ngài Phổ Hiền ở phía Đông. Vạn chúng bồ tát vây quanh thuyết pháp. Sư Pháp Chiếu làm lễ, thưa hỏi: ‘Chúng sanh đời mạt, trí thức thiển lậu, Phật tánh tâm địa không cách chi hiển hiện, chẳng hay nên tu pháp môn nào thật là thiết yếu?’

Bồ tát Văn Thù đáp:

- Lời ông vừa hỏi thật là đúng lúc. Các môn tu hành không môn nào bằng niệm Phật. Ta trong quá khứ do niệm Phật nên được hết thảy chủng trí.

Sư Pháp Chiếu lại thưa: Nên niệm ra sao?

Ngài Văn Thù dạy: - Phía Tây thế giới này có Phật A Di Đà, nguyện lực khó lường, ông nên hệ niệm chẳng để gián đoạn. Lâm chung quyết định vãng sanh.

Nói xong, lại xoa đầu ngài Pháp Chiếu. Sư nghe xong hớn hở, vui mừng. Tại nơi mình ở xiển dương pháp môn niệm Phật. Vua Đức Tông sắc đón sư vào cung dạy cung nữ niệm Phật, pháp đạo lừng lẫy.

2. Duy tâm phát hiện

Vô Công cư sĩ nói: Cực Lạc cách đây mười vạn ức cõi. Phàm phu mạng chung khoảnh khắc liền tới là vì tự tâm vốn nhiệm mầu. Vì vậy, kinh Lăng Nghiêm chép: ‘Ông do chưa rõ hết thảy phù trần, các tướng huyễn hóa, nên ở trong sanh tử, theo từng chỗ mà diệt tận. Nhân duyên hòa hợp, hư vọng có sanh. Nhân duyên biệt ly, hư vọng gọi là diệt. Bởi chẳng biết sanh, diệt, đến, đi, bổn như lai tạng thường trụ diệu minh trong tánh chơn thường. Cầu nơi đến, đi, mê, ngộ sanh tử thì trọn không có chi để được. Lấy đó mà suy, trong lúc mạng chung, cái duyên nhiễm trược tan lìa, nên chốn Sa Bà này huyễn diệt. Duyên thanh tịnh hợp lại, nên đương xứ Cực Lạc huyễn sanh. Cõi này diệt, cõi kia sanh, chẳng hở chừng sợi tóc, còn chẳng lấy chừng khoảnh khắc để ví nổi. Thấy dường như trọn ngày lấy, bỏ, mà chưa hề có lấy, bỏ vậy.

3. Niệm Phật thông, biệt

[Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ] Diệu Tông chép: ‘Tì Lô Giá Na khắp hết thảy chỗ, hết thảy các pháp đều là Phật pháp. Tức là: vị Phật nơi tánh đức của chúng sanh, chẳng phải mình, chẳng phải người, không phải nhân, chẳng phải quả, tức là cái thể viên thường đại giác. Vì thế, luận Khởi Tín chép: ‘Nghĩa của giác là tâm thể ly niệm. Tướng ly niệm ngang với hư không giới, không chi chẳng bao trùm. Pháp giới nhất tướng chính là Như Lai thường trụ pháp thân. Nương pháp thân ấy mà nói thì gọi là bổn giác. Nên biết cái thể viên minh của quả Phật chính là tánh đức vốn đủ của bọn phàm phu ta. Vì vậy hết thảy hạnh pháp được bàn đến trong kinh giáo, không chi chẳng hiển minh cái giác thể này. Vì vậy, bốn tam muội cùng được gọi chung là niệm Phật, chỉ có quán pháp [của từng tam muội] là không giống nhau. Như nhất hạnh tam muội, quán thẳng vào tam đạo, hiển bổn tánh Phật. Phương đẳng tam muội thì kiêm tụng chú, Pháp Hoa kiêm tụng kinh. Quán Âm kiêm đếm hơi thở, giác ý suốt ba tánh. Ba thứ tam muội ấy xét về sự thì khác, xét về niệm Phật lại đồng. Vì cùng để hiển cái đại giác thể vậy. Tuy cùng niệm Phật mà là đường chung để hiển thể của chư Phật. Như quán môn này và Bát Châu tam muội, nương theo cảnh y báo và chánh báo của cõi An Dưỡng, dùng vi diệu quán, chuyên chú nơi đức Di Đà, để hiển cái thể của chơn Phật. Tuy dựa vào cảnh đó mà biết là y báo, chánh báo cùng ở trong nhất tâm. Tâm tánh khắp trọn, không pháp chi chẳng tạo, chẳng pháp nào không đủ. Nếu một mảy pháp nào từ ngoài tâm sanh thời chẳng gọi là đại thừa quán vậy.

4. Ví như mài gương

Kinh dạy: Ví như mài gương, dơ hết sáng hiện, Gương cổ bụi lấp, tuy quang minh vốn có, ắt phải do mài giũa mới sáng nổi. Đấy là cái nghĩa tu được thành tựu vậy. Tuy phải do có mài mới hiện sáng, nhưng toàn là vốn có, chẳng tự ngoài vào. Đấy là nghĩa của tánh đức. Nếu chấp khư khư rằng quang minh vốn có, chẳng phải mài mới được  gương cổ dù có bị chất dơ đóng, vẫn có thể soi sự vật, thì thành cái lỗi: chấp tự nhiên! Nếu chấp nhất định rằng do mài giũa mà được, thời mài ngói cũng thành được gương, thành ra cái lỗi: chấp nhân duyên!

Kinh nói: ‘Tâm này là Phật, tâm này làm Phật’ là ước theo tu đức mà nói. Nói chúng sanh tuy có bổn giác thể, ắt cần phải do công của thỉ giác sau mới chứng được ‘tâm này là Phật’ là ước theo tánh đức mà nói. Nói ‘Phật tánh của chúng sanh tuy do tu chứng mà hiển’ nhưng toàn là tánh đức vốn có, chẳng do từ cái khác mà được.

5. Trí hay dẫn dắt hạnh

Tâm chánh thì hạnh chánh, trí tà, hạnh ắt tà. Các hạnh của đại thừa bồ tát tu dùng bát nhã để dẫn đường, nên đều là cái nhân thành Phật, thẳng vào biển Tát Bà Nhã (nhất thiết trí). Phàm phu hành thiện, cho là thật có, nên quả báo [hạn cuộc] trong trời, người. Ngoại đạo khổ hạnh dùng tà kiến làm chủ, nên hưởng báo trong tam đồ. Cái tu của nhị thừa chuyên chí nơi thiên không, nên chỉ chứng tiểu quả. Bậc tiệm tu đại sĩ tuy dùng lý dung sự vẫn còn có công dụng, chưa thể mỗi mỗi tương ứng với chơn, nên rớt vào đệ nhị. Viên đốn hành nhân, với mỗi mảy thiện, lượng đồng pháp giới, khế hợp chơn như, chẳng hướng đến nhị thừa, chẳng trệ trong ba cõi. Rõ hết thảy pháp đều là lý tam đế chẳng thể nghĩ bàn, nên đều là cái nhân thành Phật. Dùng bất tư nghị quán tu niệm Phật tam muội, là viên đốn diệu hạnh. Há có thể dùng cái vọng tình ngoại đạo chấp trước mà suy lường nổi sao!

6. Nương theo nghiệp phát hiện

Sách Vạn Thiện Đồng Quy Tập chép: Ôi hai vầng thiện ác, hai báo khổ, vui, do ba nghiệp tạo, do bốn duyên sanh, bởi sáu nhân thành, thuộc vào năm quả. Nếu một tâm niệm giận dữ, tà dâm, thì là nghiệp địa ngục. Keo tham chẳng thí thành nghiệp ngạ quỉ. Ngu si che lấp là nghiệp súc sanh. Kiêu căng, ngạo mạn là nghiệp tu la. Giữ chắc năm giới là nghiệp loài người. Tu ròng thập thiện là nghiệp cõi trời. Chứng ngộ nhân không là nghiệp thanh văn. Biết duyên tánh ly là nghiệp duyên giác. Cùng tu lục độ là nghiệp bồ tát. Chơn từ bình đẳng là nghiệp của Phật. Nếu tâm tịnh thì đài hương, cây báu, hóa sanh cõi tịnh. Tâm nhơ thời gò nổng, hầm hố là bẩm chất của uế độ. Đều là cái quả bình đẳng, cảm được cái duyên tăng thượng, rời khỏi nguồn tâm nào có thể khác.

7. Bốn thứ hạnh nguyện

Từ Vân sám chủ vì tri phủ Hàng Châu là thị lang Mã Lương, soạn văn quyết nghi về hai môn hạnh nguyện. Hạnh nguyện gồm có bốn môn:

Thứ nhất là lễ sám môn: lễ Phật, sám hối, tịnh trừ nghiệp chướng cho thân, tâm trong sạch như ruộng sạch cỏ.

Thứ hai, thập niệm môn: chấp trì thánh hiệu, định tâm thành hạnh, lập nguyện hạn kỳ, gieo chánh nhân vãng sanh Tây phương, như gieo hạt giống.

Thứ ba, hệ duyên môn: yêu mến, giữ gìn, trưởng dưỡng, thấm nhuần mầm, thân, như xối mưa ngọt.

Thứ tư, chúng phước môn: để giúp cho xum xuê, khiến chóng thành hoa, quả, như tuới bón cho mầu mỡ.

Tuy có các tướng như vậy, nhưng nếu chẳng rảnh rỗi chỉ cần tu một môn, đều được vãng sanh. Mà mỗi một môn trong bốn môn này, đều có hạnh, nguyện, đều là chánh nhân vậy. Cũng nên trong ngày lục trai, mỗi ngày tu pháp thập niệm. Còn hai môn kia, tùy sức mà hành.

8. Lúc ngủ nhập quán

Tập Chư Kinh Lễ Sám Hối Văn chép: Người tu Tịnh Độ khi nhập quán và lúc ngủ, nên trước hết đứng lên chắp tay, nhất tâm hướng về Tây, niệm A Di Đà Phật mười lượt, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Đại Hải chúng xong, liền nguyện rằng: Đệ tử hiện còn là phàm phu, tội nghiệp sâu nặng, luân hồi sáu nẻo, chưa xuất ly nổi, Nay gặp bạn lành được nghe danh hiệu công đức của Phật Di Đà, một lòng xưng niệm, nguyện sanh tịnh độ, nguyện Phật xót thương, xòe tay tiếp dẫn, đệ tử chẳng biết thân tướng quang minh của Di Đà Thế Tôn. Nguyện Phật, bồ tát thị hiện thân tướng, và các sự trang nghiêm trong cõi nước.

Nói lời ấy xong, nhất tâm chánh niệm, rồi thì nhập quán hay ngủ. Hoặc trong khi đang phát nguyện, thấy các điềm lành, hoặc ở trong quán được thấy. Hoặc trong mộng được thấy. Pháp này gần đây có linh nghiệm lớn, chẳng thể thuật đủ. Siêng gắng tu hành mới tin rằng chẳng dối vậy.

9. Hiếu dưỡng cha mẹ

Trường Lô Trách thiền sư soạn văn khuyên hiếu thuận gồm một trăm hai mươi thiên. Một trăm thiên đầu nêu ý chỉ hiếu dưỡng thế gian là sự hiếu thế tục. Hai mươi thiên sau khuyên cha mẹ tu tịnh độ là sự hiếu xuất thế. Cái hiếu của thế gian một đời là hết. Cái hiếu xuất thế không lúc nào tận. Có thể khiến cha mẹ sanh tịnh độ thì không cái hiếu nào lớn hơn. Phụ mẫu hiện tại mà chẳng khuyên lơn như vậy được, một mai khuất bóng rồi, đau lòng, tận lực hậu lễ nào có ích gì? Quán kinh trước sau hai lượt dạy: hiếu dưỡng cha mẹ là tịnh nghiệp, chính là ý này. Lại nói: Chha mẹ tin biết niệm Phật, là lúc trồng hoa sen. Nhất tâm niệm Phật là hoa sen ló khỏi mặt nước. Niệm Phật thành công hoa nở thấy Phật vậy. Hiếu tử biết lúc vãng sanh sắp đến, đã trước đem các việc lành cha mẹ làm được trong đời soạn thành một bài, luôn luôn đọc lên khiến mẹ cha hoan hỉ. Lại thỉnh cha mẹ nằm, ngồi hướng về Tây để chẳng quên tịnh độ. Bày tượng Di Đà, thiêu hương, gõ khánh, niệm Phật chẳng dứt. Lúc [cha mẹ] xả báo, lại càng dụng tâm, chớ có than khóc, làm cha mẹ mất chánh niệm. Cha mẹ được sanh tịnh độ, hưởng các khoái lạc, há chẳng tốt lành sao! Bình sinh hiếu dưỡng chính là lúc này. Đã gọi là con hiếu cháu thuận chớ quên điều này.

10. Phát tâm bồ đề

Tiếng Phạm: A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề, đây dịch là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, là quả đức rốt ráo do chư Phật chứng, là bổn nguyên Phật tánh mà chúng sanh bị mê. Kẻ học đại thừa nương theo viên đốn vô tác tứ đế, phát bốn nguyện rộng. Trước hết nương vào cảnh khổ đế, phát một nguyện rằng: Kẻ chưa độ khiến độ, tức là: chúng sanh vô biên thề nguyện độ. Rồi nương theo cảnh tập đế, phát một nguyện rằng: Kẻ chưa hiểu khiến hiểu, tức là phiền não vô biên thệ nguyện đoạn. Thứ ba, nương theo cảnh đạo đế, phát một nguyện rằng: Kẻ chưa an khiến an, tức là pháp môn vô lượng thệ nguyện học. Bốn, nương theo cảnh diệt đế, phát một nguyện rằng: Kẻ chưa được Niết Bàn khiến được Niết Bàn, chính là Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. Nguyện chẳng dựa theo đế thì gọi là cuồng nguyện. Biết rõ ấm nhập đều như, không có khổ để bỏ. Trần lao vốn tịnh, không tập để đoạn. Biên, tà đều trung chánh, không đạo để tu. Sanh tử chính là niết bàn, không diệt để chứng. Liễu đạt như vậy, phát tâm lập hạnh. Bao nhiêu công đức chỉ Phật biết nổi. Nếu chẳng được vậy tuy hay phát tâm mà vướng mắc nơi thiên, tiểu, chẳng tương ứng bồ đề. Tuy siêng hành tinh tấn mà như nấu cát thành cơm. Ví như làm ruộng chẳng gieo hạt giống, đã chẳng có mầm mộng, làm sao mong được thóc, há chẳng xét kỹ hay sao?

11. Thân cận bạn lành

Kinh Viên Giác dạy: Chúng sanh đời mạt, sắp phát đại tâm, cầu thiện tri thức muốn tu hành, nên cầu hết thảy người chánh tri kiến, tâm chẳng trụ tướng, chẳng vướng cảnh giới thanh văn, duyên giác, tuy hiện trần lao mà tâm thường thanh tịnh. Hiện có các lỗi, khen ngợi phạm hạnh, chẳng khiến chúng sanh làm điều chẳng đúng giới luật. Cầu được người như thế liền được thành tựu vô thượng bồ đề.

Lại như luận Trí Độ chép: ‘Với các đạo sư, tưởng như Thế Tôn. Nếu có người có thể khai thị, giải thích nghĩa sâu, xóa tan mối nghi, có ích cho mình, thì tận tâm cung kính, chẳng quan tâm đến các điều điều ác khác [của người ấy]. Như túi rách đựng báu, chẳng vì do [túi đựng] tệ ác, mà chẳng nhận lấy báu ấy. Lại như đêm đi đường hiểm, người tệ hại cầm đuốc, chẳng vì người ấy xấu ác mà chẳng cần nhờ soi’. Kinh Hoa Nghiêm dạy: ‘Nên với tự thân, sanh ý tưởng bịnh, khổ. Với thiện tri thức, sanh ý tưởng như y vương. Với pháp họ nói, tưởng như thuốc tốt lành. Với pháp tu hành, tưởng như trừ bịnh. Nếu nghe được một câu pháp chưa từng có thì còn hơn cả được bảy báu chứa đầy trong tam thiên đại thiên thế giới và ngôi Thích, Phạm, Chuyển Luân’. Luận Khởi Tín chép: ‘Như lửa trong cây, tánh là chánh nhân của lửa. Nếu không người biết, chẳng cậy đến phương tiện mà tự đốt lấy cây thì thật chẳng có lẽ ấy. Chúng sanh cũng thế, tuy có sức chánh nhân huân tập, nếu chẳng gặp chư Phật, bồ tát, thiện tri thức để làm duyên mà tự có thể đoạn phiền não, nhập Niết Bàn, thật chẳng có lẽ ấy.

2. Mười thứ tín tâm

Muốn hết sanh tử, tu hành tịnh nghiệp, nên phát mười thứ tín tâm, niệm niệm chẳng quên, quyết sanh tịnh độ, được bất thối chuyển.

Một, tin pháp của Phật nói, lời chân thành tự miệng vàng, chơn thật chẳng dối.

Hai, tin phàm phu trong mê, thức thần chẳng diệt, sáu nẻo tuần hoàn chẳng ngơi.

Ba, tin tu hành nơi cõi này, chưa được đạo quả, chẳng khỏi luân hồi.

Bốn, tin chưa khỏi luân hồi, tuy sanh trên trời, chẳng khỏi đọa lạc.

Năm, tin chúng sanh sanh về Cực Lạc thế giới vĩnh viễn chẳng thoái chuyển.

Sáu, tin chúng sanh phát nguyện, nguyện sanh tịnh độ, quyết định vãng sanh.

Bảy, tin một phen xưng danh hiệu Phật, diệt được tám muơi ức kiếp sanh tử tội nặng.

Tám, tin người niệm Phật được A Di Đà Phật thần thông quang minh nhiếp thủ chẳng bỏ.

Chín, tin người niệm Phật: mười phương thế giới hằng sa chư Phật cùng dùng thần lực luôn luôn hộ niệm.

Mười, tin đã sanh tịnh độ, thọ mạng vô lượng, một đời sẽ được vô thượng bồ đề.

Với mười thứ tín tâm này, chẳng thể tin sâu, lại sanh nghi hoặc thì tuy niệm Phật, chẳng được vãng sanh.

13. Tự chướng, tự ngăn

Bách Đình pháp sư nói: Người tu tịnh nghiệp, thường lắm kẻ biết được pháp môn, mà người gấp tu hành chẳng có bao nhiêu. Kẻ bàn tịnh nghiệp, thường lắm người nắm vững yếu chỉ, mà kẻ trực chỉ thời quá ít ỏi. Có kẻ chưa nghe đã tự chướng, tự ngăn người giảng cho mình. Tự chướng thì không chi bằng ái. Tự ngăn không chi bằng nghi. Chỉ cần hai cái tâm ái và nghi ấy không còn chướng ngại thì một môn tịnh độ mới chẳng bị ngăn cách. Trong bài tựa Tịnh Độ Thập Nghi Luận, Vô Vi Tử viết: Ái chẳng nặng chẳng sanh Sa Bà. Niệm chẳng nhất chẳng sanh Cực Lạc. Huệ Viễn pháp sư đời Tấn kết liên xã nơi Lô Sơn: Với ông Uyên Minh thì ngài mời mọc vì quý trọng ông ấy đã thông đạt, lại còn đoạn được ái. Với ông Linh Vận thì cự tuyệt, vì ông này tâm tạp, lại chẳng thể chuyên niệm. Há chẳng phải là làm cho thông hai điều ấy (nghi và ái) chính là điều cốt yếu của tịnh độ ư?

14. Thân tâm hư ngụy

Quan tướng quốc Bùi Hưu đời Đường nói: Đại chúng từ vô thỉ đến nay, thường nhận rằng thân ta là địa, thủy, hỏa phong, giả hợp thành thân, chợt tụ, chợt tán, thuộc pháp vô thường, chẳng phải thân ta vậy. Đại chúng từ vô thỉ đến nay thường nhận rằng tâm ta là duyên lự khách trần, cái tâm hư vọng, chợt khởi, chợt diệt, thuộc vô thường pháp, chẳng phải tâm ta. Ta có chơn thân, viên mãn không tịch là đúng vậy. Cái chơn tâm của ta rộng lớn linh tri là đúng vậy. Không tịch, linh tri, thần dụng tự tại. Tánh bao hàm muôn đức, thể tuyệt bách phi, như vầng trăng sạch, viên mãn chẳng khuyết. Hoặc bị mây che, chẳng tự hay biết. Vọng hoặc đã trừ, chơn tâm vốn tịnh. Thập phương chư Phật, hết thảy chúng sanh và cái tâm này của ta, ba thứ trên đây chẳng sai khác. Đấy chính là bồ đề tâm thể vậy. Bỏ điều này chẳng nhận thức được, mà nhận cái thân hôi thối, vọng niệm, ruổi theo sanh tử, chen vai cùng cầm thú, tạp loại chịu khổ. Là trượng phu há chẳng thẹn sao?

15. Dâm, sát tướng nhân

Sách Long Thư Tịnh Độ chép: Uống ăn, nam nữ, là cái dục lớn của con người. Chế ngự [đến mức] như không có nữa là bậc thánh nhân. Tiết độ chẳng phóng túng, đáng gọi hiền nhân. Phóng túng chẳng tiết độ, thì là hạ ngu. Mà hai điều dâm, sát ấy lại trợ giúp, phát khởi tạo nghiệp. Đã ăn uống quá no đủ, thì khí huyết mạnh mẽ, khiến cho dâm dục nhiều. Dâm dục nhiều thì lại tổn khí huyết. Lại phải nhờ vào ăn uống để bồi bổ. Nếu cùng có thể tỉnh giảm, thì chính là cái đạo an thân, sống thọ vậy. Từ Giác thiền sư nói: Ăn uống nhân gian năm tháng dài dặc. Tinh, thô tùy phận, khổ sở vì đói lạnh. Nuốt qua khỏi ba tấc lưỡi thành vật gì? Sao chẳng để tâm suy xét kỹ.

Vụ Thật dã phu nói: Da bao xương thịt, cùng máu mủ. Cưỡng làm vẻ yêu kiều để mê hoặc người. Anh hùng tự thiên cổ đều [đã từng] ngồi nơi đây Trăm năm cùng chung vùi lấp dưới mộ. Nếu quả thật có thể răn dè được hai điều ấy (dâm, sát), đời đâu còn cảnh bịnh tật, chết yểu. Chết đi nào còn có cảnh địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Nếu quyết muốn cầu sanh tịnh độ, phải nên gìn giữ hai điều ấy thật cẩn thận.

16. Nghiệp tướng lúc lâm chung

Sách Tông Kính Lục dẫn kinh Hoa Nghiêm rằng: Ví như có người, lúc sắp mạng chung, thấy được tướng thọ báo tùy theo nghiệp đã tạo. Kẻ hành nghiệp ác thấy địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ, tất cả hết thảy các cảnh giới khổ. Hoặc thấy ngục tốt, tay cầm khí giới, hoặc giận, hoặc chửi, tóm lấy lôi đi. Cũng nghe tiếng gào thét, khóc than. Hoặc thấy sông tro, vạc sôi, núi đao, rừng kiếm, các thứ bức bách, chịu các khổ não. Người tạo nghiệp lành, thì thấy hết thảy các cung điện trời, vô lượng thiên nhạc, các thiên thể nữ, các thứ y phục, trang nghiêm đầy đủ, cung điện, vườn, rừng, trọn đều diệu hảo. Thân tuy chưa chết cảnh đã hiện tiền. Cảnh [vốn thật] chẳng hiện tiền, duy tâm vọng kiến các cảnh khổ vui, vốn chẳng từ đâu đến, các sự thiện ác chỉ tự mình cảm vời. Chưa rõ nhất tâm thì khó thoát sáu đường!

17. Mười niệm vãng sanh

Trong Thập Nghi luận, có câu hỏi rằng: Chúng sanh nghiệp nặng, cớ sao mười niệm liền được vãng sanh? Đáp: Lâm chung gặp ngay thiện hữu, đều là thiện căn đời trước. Nếu không túc nhân, còn chẳng thể gặp được thiện tri thức, nữa là mười niệm thành tựu! Nếu coi vô thỉ ác nghiệp làm trọng, lâm chung mười niệm là khinh, thì nay dùng ba thứ so lường, chẳng bàn đến thời gian ít, nhiều.

Một là tại tâm. Lúc tạo ác, từ hư vọng điên đảo sanh. Khi niệm Phật là từ thiện tri thức nghe danh hiệu công đức chơn thật của A Di Đà Phật mà sanh. Một hư, một thật, há so sánh được ư? Ví như nhà tối vạn năm, ánh mặt trời vừa chiếu đến, há do vì bóng tối tích tụ đã lâu nên chẳng diệt nổi sao!

Hai là tại duyên. Lúc tạo tội, từ tâm si ám, duyên cảnh hư vọng mà sanh. Cái tâm niệm Phật từ nghe công đức danh hiệu của Phật, duyên tâm vô thượng bồ đề mà sanh. Một chơn, một ngụy, há so sánh được ư! Ví như có người bị trúng tên độc. Tên lút sâu, độc ngấm đẫm, tổn da nát xương. Một khi nghe tiếng trống thuốc Diệt Trừ, tên liền rớt, độc trừ. Há bảo là tên lút sâu, độc đã ngấm nên chẳng thể lành hay sao?

Ba là tại quyết định. Lúc tạo tội, do cái tâm hữu gián hữu hậu. Khi niệm Phật, dùng cái tâm vô gián, vô hậu, liền ngay lúc xả thọ, thiện tâm mạnh mẽ, vì vậy được sanh. Ví như dây thừng quấn mười vòng, ngàn kẻ đàn ông chẳng làm gì nổi. Đứa bé vung gươm, khoảnh khắc bị đứt làm hai đoạn. Lại như củi chứa ngàn năm, dùng chút lửa bằng hạt đậu, chốc lát cháy sạch. Như người một đời tu mười nghiệp lành ắt được sanh lên trời. Lúc lâm chung khởi một niệm quyết định tà kiến, liền đọa A Tì địa ngục. Ác nghiệp hư vọng, do vì mạnh mẽ còn có thể xóa tan cả một đời thiện nghiệp, khiến đọa đường ác. Huống là lúc lâm chung, tâm mạnh mẽ niệm Phật, chơn thật vô gián tạo nghiệp lành, mà chẳng xóa nổi vô thỉ ác nghiệp, được sanh tịnh độ sao!

18. Trai phòng đặt tượng

Chỗ phàm phu nằm ngồi thường ngày chẳng nên đặt tượng Phật, Bồ Tát, vướng lấy tội khinh nhờn. Trúc Am Quán pháp sư thấy trai phòng của học giả bày tượng, liền khuyên răn rằng: Các ông đứng ngồi vô lễ, nói lời vô ích. Cái cung kính đốt hương chốc lát chẳng bù nổi cái tội trọn ngày khinh mạn.

Đại Thông Bổn thiền sư thấy tượng Phật, bồ tát đứng hoặc đi, thì chẳng dám ngồi. Thức ăn chay dùng thịt, cá đặt tên, ngài chẳng ăn. Chơn thành kính thờ, phòng tâm rời lỗi như vậy trong (Bách Trượng Sắc Tu) Thanh Quy thường răn thường nhân. Chẳng phải lúc lễ bái, cúng dường, thắp thêm hương, thay nước, vô cớ chẳng được vào điện đường. Sợ giải đãi tổn phước, chiêu lấy tội vậy. Nếu vì người lâm chung, lúc bịnh khổ bức bách, bày tượng niệm Phật, tăng chánh niệm cho họ, để giúp vãng sanh thì chẳng bị hạn cuộc điều răn này.

19. Dùng lý đoạt sự

Lục Tổ Đàn kinh chép: Người Thiệu Châu hỏi pháp tu Tây phương. Lục Tổ dạy: Tự tâm có tây phương, kiếm tây phương chỗ nào? Người đông phương tạo tội tác nghiệp, cầu sanh tây phương. Nếu người tây phương tạo tội gây nghiệp, cầu sanh chốn nào? Chỉ cần ngộ được tánh, thì chỗ nào chẳng được. Lại ngài Chí Công nói: Bậc trí biết tâm là Phật, kẻ ngu nguyện sanh Tây phương. Lời của hai vị sư này đều là dùng lý đoạt sự, cũng là theo bịnh cho thuốc. Nếu chấp theo lời mà hiểu, là chấp thuốc thành bịnh vậy. Nếu chỉ căn cứ theo lý mà nói, thời một pháp còn chẳng thể được, huống là có tịnh độ để sanh. Chẳng riêng mình tịnh độ mà ngay cả tự tâm cũng còn chẳng thể được. Cái chẳng thể được này cũng chẳng thể được nốt. Nếu như vậy, thì nói là ‘tự tâm có tây phương’ và ‘biết tâm là Phật’ đều thành thừa thãi. Mà lý chính là cái lý tức sự. Không chính là cái không tức hữu. Chính ngay trong chỗ khoảng khoát ấy phương ngại gì việc kiến lập các pháp để niệm Phật vãng sanh. Do sự chính là lý nên niệm mà vô niệm, sanh mà vô sanh, nên cứ thẳng bước trên đường rộng, chấp chi lời chết cứng. Người đời sau chẳng hiểu ý này, cứ một bề theo lời nói mà hiểu, hủy báng người tu tịnh nghiệp. Như người nương thuyền vượt biển, lại khuyên đi đường bộ, chẳng tương xứng cơ nghi, chỉ càng thêm hoặc loạn. Ngài Vĩnh Gia nói: Bỏ có chấp không cũng là bịnh, khác nào tránh chết đuối, bèn đâm đầu vào lửa. Có nên như thế chăng?

20. Bốn thứ tình chấp

Đạo chẳng phải trong, ngoài, chẳng rời trong, ngoài. Đạo tuyệt ta, người, chẳng ngại ta, người. Do muôn pháp đồng một thể vậy. Một chẳng nhất định là một, nào ngại chi vạn pháp khác biệt. Nếu rõ ý chỉ này, một điều minh thì hết thảy minh. Muôn pháp đều là tự tánh của mình, không chi chẳng đến được. Nếu có Phật để niệm thì là chấp tướng. Nếu bảo không Phật để niệm thì chấp tướng càng nặng hơn. Thử dùng tứ cú để nói, tức là: có Phật, không Phật, cũng có Phật cũng không Phật, chẳng phải có Phật chẳng phải không Phật, thành ra bốn thứ chấp. Hễ chấp lấy một thứ đều là tà kiến. Nếu với điều này, dung thông vô ngại, hễ quán một điều đều thành tam muội vậy. Nêu một điều để làm mẫu cho các điều khác, ngõ hầu lãnh hội được ý. Phật dùng nguyện lực rộng lớn khiến cho sơ tâm phàm phu một phen sanh cõi kia, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, mà chẳng chịu vãng sanh, cam chịu trầm luân, chính là gã ở sát cạnh giỏ cơm mà đành chịu chết đói vậy. Ngài Đạt Ma nói: Tâm như tường vách, bèn có thể nhập đạo là để phá vọng tình phân biệt, cũng là theo bịnh cho thuốc. Nếu muốn vô tâm ngay thì chính là chấp thuốc thành bịnh. Thiện Tinh tì kheo nói được mười hai bộ kinh, được quả tứ thiền, nhân vì bạn tà, nói xằng không Phật, không pháp, chẳng có Niết Bàn, nên sanh hiểm ngục, đều do vọng chấp pháp không. Bác không nhân quả, chiêu lấy cái quả báo dữ dội ấy. Người đời nay chẳng tôn trọng lời Phật, chấp tà kiến là đại thừa, báng niệm Phật là tiểu thừa, chính là phi pháp bảo là pháp, pháp nói là phi pháp. Vô gián trọng tội thoát nổi được chăng!

21. Lẽ được mất của chuyện bàn về cái Không

Kinh nói: Chư Phật nói pháp Không vì độ kẻ chấp trước. Nếu lại chấp nơi Không, chư Phật chẳng độ nổi. Giáo pháp của cả Đại Tạng là tùy bịnh cho thuốc. Khéo dùng thuốc thì không bịnh chi chẳng hết. Chẳng khéo dùng thì đề hồ thượng vị trở thành chất độc! Bồ Đề Đạt Ma chẳng lập văn tự, chỉ đề xướng trực chỉ, bảo là giáo ngoại biệt truyền. Lục Tổ nói: Chỉ hai chữ chẳng lập ấy đã là văn tự. Bảo là trực chỉ, chỉ vì do [người tu hành còn] hiểu cong vạy vậy. Cổ nhân vì kẻ học cạy niêm cởi trói, xóa ngờ phá chấp. Công ấy không chi lớn hơn, cần phải biết đạo lý sau: Chẳng thể dùng hữu tâm để cầu. Chẳng thể dùng vô tâm để được. Chẳng thể dùng ngữ ngôn để tạo. Chẳng thể dùng tịch mặc để thông, đạt thẳng đến chỗ không nương dựa vào đâu, siêu xuất sự suy nghĩ của phàm, thánh. Cũng chẳng nương dựa vào cái chỗ không nương dựa ấy, vượt khỏi chỗ suy lường của phàm, thánh, mới đáng gọi là xuất cách đạo nhân. Kẻ học đạo đời sau chấp trước ngang bướng, chẳng rõ ý tổ, đem lời lẽ cổ nhân nhận cho là thật, cho rằng thật có một pháp là giáo ngoại biệt truyền, phải thẳng tay quét sạch văn tự, chấp chặt rằng chẳng còn một pháp mới là cứu cánh, một dạ trong dòng sanh tử làm kế sinh sống. Với các đạo khác cũng đem [cái chấp] tảo trừ cũng lại quét sạch, mà nghinh ngang chẳng hay biết. Ôi! đáng thương thay! Riêng chẳng biết rằng: đoạn vọng tưởng tam giới, diệt ngũ ấm sắc thân, trọn chẳng một mảy lông để thấu. Mà với tam tạng, tiểu thừa kiến giải, nếu hiểu được thì là một con đường chuyển thân, tự nhiên mọi pháp dung thông, chẳng phương ngại đi trên đường sanh tử. Nương theo thánh giáo của Phật, phát nguyện vãng sanh, tham lễ Di Đà, thân cận thiện hữu, mau chứng bất thoái, rộng độ chúng sánh. Sánh với kẻ riêng chấp Không kiến, cam chịu luân hồi, chẳng cầu xuất ly, tiêu hoại chẳng đồng vậy.

22. Chống kinh, trái thánh

Đạo của cổ nhân: tu chứng thời chẳng không, nhiễm ô thời chẳng được. Như một bản kinh Kim Cang Bát Nhã dạy: vô trụ tướng bố thí, há có phải là chẳng cần tu bố thí thì là vô trụ tướng sao? Chỉ cần sao cho cái tâm tu, khế hợp lý bát nhã chơn không, trọn ngày bố thí, mà lìa hết thảy tướng, mới là phá chấp vậy. Bàn thẳng về ly tướng thời nói cho tột lý, cũng chẳng chấp vào cái ly tướng mới gọi là: với chấp trước và chẳng chấp trước đều không chấp cả. Do xứng tánh tu hành, lìa các kiến giải chấp có, chấp không của phàm phu và nhị thừa, nên bảo là vô trụ tướng vậy. Phàm bồ tát tu hành lục độ, vạn hạnh, không vị nào chẳng đều như thế cả. Há phải đâu khơi khơi không tu, rồi gọi là chẳng trụ tướng ư! Nay một môn vãng sanh tịnh độ, chính là một môn trong vạn hạnh của bồ tát: Là pháp qua suốt mười phương thừa sư chư Phật vậy. Do xứng tánh tu hành nên rõ hết thảy pháp, đều là vô tướng. Vô tướng cũng là vô. Phàm đã như vậy, thời với tịnh độ nào ngại vãng sanh. Với đức Di Đà, ngại chi thân cận. Nương Phật  nguyện lực, mau chứng vô sanh. Nếu chấp chặt vô sanh, vô kiến mới là đạt lý, thì đọa vào thiên kiến không của nhị thừa, ngoại đạo. Với thánh giáo của Phật, công nhiên trái nghịch, chống kinh, chê thánh, tội nào lớn hơn?

23. Vì nhỏ mất lớn

Sách Long Thư Tịnh Độ chép: Nay có kẻ mua bán mong một tiền mà được hai tiền, người đi đường một ngày đi được đoạn đường bằng cả hai ngày đi, tâm liền vui sướng. Không được như thế, tâm ắt buồn bực. Đó, với vật nhỏ ngoài thân, được mất đã vui, buồn như thế. Còn với tháng ngày hữu hạn của mình, luống để trôi qua, mất mát thật lớn, chẳng lấy làm lo. Cái duyên tịnh độ khó gặp, may được biết đến, là cái được lớn lao, chẳng lấy làm vui. Chạy theo cái được, mất nhỏ nhoi mà vui, buồn. Còn với cái được, mất lớn lao, thì chẳng hay biết. Sao chẳng suy xét kỹ vậy!

24. Mười cái mất mát nếu chẳng tu

Phật dạy pháp tu hành đường tắt, khiến hết thảy chúng sanh mau siêu sanh tử. Nhưng người chướng trọng chẳng chịu tấn tu, thì có mười điều mất mát:

Một, chẳng tin lời Phật. Hai, chẳng tuân thánh giáo. Ba, chẳng tin nhân quả. Bốn chẳng trọng cái linh tâm của mình. Năm, chẳng cầu tiến lên. Sáu chẳng thân thiện hữu. Bảy, chẳng cầu giải thoát. Tám, cam chịu luân hồi. Chín, chẳng sợ ác đạo. Mười, cam làm loài ma.

Ngược lại, tu hành thì được mười thứ lợi ích thù thắng.

25. Vĩnh viễn không ma sự

Sách Niệm Phật Chánh Tín Quyết của Thọ Thiền Sư viết: Hoặc bảo là lâm chung thấy Phật, phóng quang tiếp dẫn, đều là ma cảnh. Thuyết ấy như thế nào? Đáp: Kinh Thủ Lăng Nghiêm tu tập tam muội, hoặc phát động ấm ma. Các thứ tam muội nói trong Luận Ma Ha Diễn và  (Ma Ha) Chỉ Quán, phát động ngoại ma. Các thứ tam muội ấy đều là dành cho người dùng tự lực tu thiền. Trước có ma chủng, bị định thúc đẩy phát động. Nếu hiểu rõ được mà đối trị thì thành thánh pháp. Nếu cứ buông theo chẳng biết thì bị chướng ngại. Nay tu niệm Phật tam muội nương sức đức Phật kia, như gần đế vương, kẻ nào dám phạm. Vả đức Di Đà có thệ nguyện đại từ bi, sức tam muội oai thần, có sức dẹp tà lớn lao, có sức hàng ma to lớn, thiên nhãn xa trông, thiên nhĩ vẳng nghe, tha tâm soi tột, quang minh chiếu khắp, nhiếp thủ chúng sanh. Có sức công đức như vậy, há chẳng hộ trì nổi người niệm Phật khiến lúc lâm chung chẳng bị chướng ngại ư? Còn các việc kim đài đến đón vốn tự Quán kinh, kim khẩu đã nói, nếu coi là ma, thì thật quá vô tri vậy.

26. Ba sức Bát Châu

Trong Hội Tông Tập của Viên Thông Phạm pháp sư có dẫn kinh Bát Châu Tam Muội rằng: Niệm Phật vãng sanh có ba thứ lực:

Một là bổn hữu Phật tánh lực là nói trong tâm phiền não có Như Lai tạng vậy.

Hai là từ quang nhiếp thủ lực, tức là nói Di Đà quang minh vô lượng. Với chúng sanh niệm Phật nhiếp thủ chẳng bỏ.

Ba là niệm Phật tam muội lực, tức là nhớ Phật niệm Phật, hiện tiền, tương lai nhất định thấy Phật.

Ba thứ lực này như ba sợi dây hợp thành thừng lớn, lôi được vật nặng. Lại như cái gương thủy hỏa, nếu đem hướng về mặt trời soi lên cỏ thì lấy được lửa. Nếu đem hứng ánh mặt trăng, dùng châu để hứng lấy thì liền được nước. Nay cái gương có đủ tánh thủy, hỏa là ví cho chúng sanh vốn đủ sức Phật tánh. Cần phải nhờ đến ánh sáng mặt trời, mặt trăng soi đến là ví cho từ quang nhiếp thủ của Phật Di Đà vậy. Dùng cỏ, châu lấy được nước, lửa là ví cho sức tín tâm niệm Phật. Ba thứ này thiếu một điều chẳng được. Ba sự hòa hợp, nước, lửa mới sanh. Ba lực cùng hỗ trợ ắt sanh tịnh độ.

27. Thuyền chở đá chẳng chìm

Kinh Na Tiên nói: Xưa có quốc vương hỏi sa môn Na Tiên rằng: Chúng sanh nghiệp nặng, làm sao niệm Phật liền được vãng sanh? Na Tiên đáp: Ví như có kẻ dùng khối đá lớn số đến trăm, ngàn, toan chở qua biển lớn. Do bởi sức thuyền đến được bờ kia. Tội của chúng sanh ví như đá lớn. Nguyện lực Di Đà như thuyền lớn kia. Đá vốn dễ chìm, nhờ thuyền chở được, vượt ngang biển khổ sanh tử, toàn nhờ nguyện vương của Phật. Trong hết thảy thời, dùng làm người dẫn đường tốt lành, lên thẳng bờ kia. Chẳng vượt tự tâm. Vì vậy, Câu Xá tụng chép rằng: Ngu tạo tội thì nhỏ cũng đọa ác. Trí làm tội dù lớn cũng thoát khổ. Như cái kim sắt nhỏ cũng chìm xuống nước, cái bát sắt to cũng nổi được.

28. Vừa niệm liền sanh

Trong Thập Nghi Luận có câu hỏi rằng: Tây phương cách đây mười vạn ức cõi, phàm phu hèn yếu, làm sao đến nổi? Đáp: Tây phương mười vạn ức cõi là đối với phàm phu nhục nhãn, tâm lượng sanh tử mà nói. Đều khiến chúng sanh tịnh nghiệp thành là trong lúc lâm chung, cái tâm trong định chính là cái tâm tịnh độ thọ sanh. Vừa khởi niệm chính là lúc sanh tịnh độ. Vì vậy, kinh dạy: A Di Đà Phật cách đây chẳng xa, vì nghiệp lực chẳng nghĩ bàn vậy. Một niệm liền sanh, chẳng phải sợ xa. Lại như người nằm mộng, thân tuy trên giường, tâm ý thức khắp đến phương khác, như lúc bình thường chẳng khác. Tịnh độ cũng thế, động niệm liền sanh, chẳng còn ngờ gì.

29. Như gương hiện bóng

Sách Long Thư Tịnh Độ chép: Mỗi một chúng sanh trong mười phương thế giới niệm Phật, ao báu tịnh độ liền sanh một đóa hoa sen, ghi tên người ấy. Nếu như còn ngờ, thì ta bảo rằng: Như gương sáng sạch, vật soi vào liền hiện. Gương có dụng tâm đâu? Do nó sáng nên tự nhiên hiện vậy. Vì thế bảo: Thiện tâm vừa phát, điện báu trên cõi trời đã thành trước. Ác niệm vừa nhú, thành lửa dưới đất đã đủ. Phàm như vậy, thì người tu tịnh nghiệp cành hoa đề tên, chờ người vãng sanh, có chi là lạ? Hoặc nói: Trì chú Vãng Sanh thì A Di Đà Phật thường ngự trên đảnh. Người tu tịnh nghiệp lúc lâm chung Phật và bồ tát cùng đến đón rước. Chúng sanh vô luợng, làm sao Phật ngự khắp trên đảnh nổi, đều đến đón hết nổi? Ta bảo: Một vầng trăng khắp hiện trong hết thảy chỗ có nước. Một mặt trời chiếu khắp vô lượng thế giới. Chỉ có nước đục chẳng hiện. Chậu úp chẳng chiếu được! Quang minh của Phật Vô Lượng Thọ chiếu khắp mười phương thế giới, với chúng sanh niệm Phật nhiếp thủ chẳng xả. Đời có kẻ chẳng nguyện vãng sanh như nước đục, chậu úp, chẳng được quang soi, há có phải lỗi của mặt trời, mặt trăng ư?

30. Cầu Phật gia hộ

Chiếu luật sư nói: Hoặc hỏi như Quán kinh nói: ‘Tâm này làm Phật, tâm này là Phật’. Tâm đã là Phật, cần gì niệm Phật khác? Đáp: Chính vì do tâm vốn là Phật nên khiến chuyên niệm đức Phật ấy. Kinh Phạm Võng dạy: ‘Nên thường tự biết ta là Phật chưa thành, chư Phật là Phật đã thành’. Tâm ông là Phật là Phật chưa thành. A Di Đà Phật là Phật đã thành. Phật chưa thành chìm trong biển dục đã lâu, đầy đủ phiền não, chẳng biết kỳ ra. Đức Phật đã thành chứng bồ đề đã lâu, đầy đủ oai thần, có thể gia hộ cho chúng sanh. Vì thế chư Phật khuyên niệm Phật, chính là để cho vị Phật chưa thành của ta cầu nơi đức Phật đã thành của người khác cứu giúp cho. Vì thế chúng sanh nếu chẳng niệm Phật, phàm thánh vĩnh viễn cách biệt, cha, con xa lìa, ở mãi trong luân hồi, cách Phật càng xa vậy.

31. Bí quyết trường sanh

Sách Long Thư Tịnh Độ chép: Kinh Lăng Nghiêm nói có mười loại tiên, thọ ngàn vạn năm, sống trong núi sâu, mạng hết lại vào luân hồi, vì chẳng hiểu chơn tánh. Với lục đạo chúng sanh cùng gọi là bảy đường. Người học đạo tiên trong đời, vạn người tu chẳng có đến một người đắc đạo. Ví dù có đắc đạo, chẳng thoát luân hồi vì chấp nơi thần, hình, chẳng thể bỏ đi nổi. Vả thần hình là vọng tưởng hiện ra trong chơn tánh, đều chẳng phải chơn thật. Trong vòng vài trăm năm trở lại đây, người được thànhtiên chỉ có Chung Ly, Lữ Động Tân. Mà số người học theo họ Chung, họ Lữ số đến ngàn muôn. Chỉ riêng những người tôi đích thân biết, số cũng chẳng ít, rốt đều tử vong, chôn vùi dưới đất. Chẳng thấy một ai giữa ban ngày bay lên nổi. Muốn cầu trường sanh, chẳng chi bằng tịnh độ. Chẳng biết tu pháp này, mà học thần tiên, là bỏ mỹ ngọc trước mắt, để cầu thứ đá vân chẳng đạt được. Há chẳng lầm lắm sao? Hương Sơn cư sĩ đời Đường trong bài thơ tặng Vương tiên nhân có viết:

Nghe ngài bớt ăn, ngủ,

Ngày nghe thuyết thần tiên

Ngầm đợi bậc phi thường

Cầu bí quyết trường sanh

Mong đem dài đối ngắn

Chưa thoát vòng sanh tử,

Dẫu có được trường sanh

Tài năng thắng chết yểu

Cây tùng ngàn năm mục

Hoa cẩn một ngày tàn

Rốt ráo như hư không

Cần gì thử năm tháng

Thọ, yểu dẫu khác nhau

Sanh tử rồi giống hệt

Chẳng bằng học vô sanh

Vô sanh thì vô diệt.

32. Mười tâm trong kinh Bảo Tích

Kinh Đại Bảo Tích chép: Di Lặc hỏi Phật rằng: Thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà, nếu có chúng sanh phát mười thứ tâm, chuyên chú nơi Phật, người ấy mạng chung sẽ được vãng sanh. Những gì là mười?

Phật bảo Di Lặc: Mười tâm như vậy, chẳng phải các phàm ngu, bất thiện trượng phu đủ phiền não có thể phát nổi. Những gì là mười? Một là với các chúng sanh khởi đại từ, không tâm tổn hại. Hai là với các chúng sanh khởi đại bi, không tâm bức não. Ba là với chánh pháp của Phật, chẳng tiếc thân mạng, tâm thích thủ hộ. Bốn là với hết thảy pháp, phát sanh thắng nhẫn, tâm không chấp trước. Năm là chẳng tham lợi dưỡng, cung kính tôn trọng, tâm vui thích thanh tịnh. Sáu là cầu Phật chủng trí, trong hết thảy thời, tâm không quên mất. Bảy là với các chúng sanh, tôn trọng cung kính, tâm không hèn kém. Tám là chẳng ham bàn chuyện đời, với bồ đề phần, sanh tâm quyết định. Chín là trồng các căn lành, chẳng có tâm tạp nhiễm thanh tịnh. Mười là với các Như Lai, xả ly các tướng, khởi tâm tùy niệm. Đấy gọi là mười thứ tâm của bồ tát, nếu người với mười tâm này, hễ thành một tâm, ưa muốn sanh nơi thế giới đức Phật kia, nếu như chẳng sanh thật chẳng có lẽ ấy.

33. Ngài Từ Vân khuyên tu

Từ Vân sám chủ nói: An Dưỡng tịnh nghiệp, đường tắt dễ tu, các kinh đại thừa đều nêu điều cốt yếu này. Mười phương chư Phật không vị nào chẳng khen ngợi. Nếu tì kheo tứ chúng, thiện nam, tín nữ muốn được mau phá vô minh, vĩnh viễn diệt ngũ nghịch, thập ác trọng tội, và các lỗi nhẹ khác, nên tu pháp này. Muốn giới luật lớn nhỏ được hoàn phục thanh tịnh, đủ đầy hết thảy các ba la mật môn, nên học pháp này. Muốn lúc lâm chung lìa các sợ hãi, thân, tâm an vui, vui vẻ như ra về, quang chiếu cửa nhà, hương lạ, âm nhạc, A Di Đà Phật cùng các thánh chúng trao đài tử kim, thõng tay tiếp dẫn, vượt ngang ngũ đạo, chín phẩm mãi mãi ngự lên, thoát hẳn phiền não, an nghỉ thanh lương, vừa khỏi trần lao, liền chứng bất thoái, chẳng trải bao kiếp lâu xa, liền chứng vô sanh thì nên học pháp này. Muốn tu chút pháp, mà cảm diệu báo, mười phương chư Phật cùng lúc khen ngợi, hiện tiền thọ ký, một niệm cúng dường vô ương số Phật, trở về cõi mình, ngồi ăn chung với Phật A Di Đà, nghị luận với Quán Âm, sánh bước cùng Thế Chí, thấy suốt nghe tột, thân vô hạn lượng, bay lên không tự tại, rành rẽ túc mạng, thấy khắp năm đường như bóng hiện trong gương, niệm niệm chứng nhập vô tận tam muội. Xưng thuật như thế chẳng thể cùng tận. Phải nên tu tập pháp thù thắng như thế này.

34. Hiện đời được phước

Sách Long Thư Tịnh Độ chép: Hoặc nói cầu sanh tịnh độ, là việc sau khi chết, chẳng hay có lợi ích gì lớn lao cho ngay khi còn sống chăng? Phàm Phật dạy người, không gì là chẳng lành. Đã lấy việc cầu sanh tịnh đọ làm tâm, phàm ý nghĩ đến, miệng nói đến, thân làm ra, không gì là chẳng lành. Người ấy trong đời hiện tại đáng coi là bậc quân tử, là đại hiền, được người kính trọng, được thần nhân phù trợ, phước duyên được tăng, thọ mạng được vĩnh viễn. Kế nữa là nghiệp duyên bị đoạt, chẳng thể chuyên chí vào cõi này, ác duyên do vậy giảm bớt, thiện duyên bởi đấy càng tăng. Giả sử kẻ chẳng biết lễ nghĩa, chẳng sợ hình phạt, chỉ cậy vào khí lực, chỉ chăm chăm theo cái lợi thế gian, chỉ tạm biết lấy tịnh độ làm tâm, ắt cũng tự giảm bớt lỗi mình, Tất cả việc làm của kẻ ấy tuy đều chẳng thể hợp với lễ nghĩa hết, mà cũng khá gần với lễ nghĩa vậy. Huống là chịu sa vào hình phạt sao? Khiến cho ai nấy đều được như vậy, thì dần dần có thể thoát khỏi bầy tiểu nhân, trọn quy về quân tử vậy. Những người quen biết trong xóm đều xem như người lành. Do lý lẽ ấy, tuân theo giáo pháp của Phật, lấy tịnh độ làm tâm, có dám bảo là vô ích cho cuộc sống hiện tại chăng?

35. Các sự lành giúp rập

Sách Long Thư Tịnh Độ chép: Cúng Phật, trai tăng, tạo tháp, dựng chùa, niệm tụng, lễ sám, hiếu dưỡng cha mẹ, anh trọng, em kính. Trong vòng họ hàng, không ai chẳng hòa mục. Xóm giềng làng nước, đối đãi tử tế với nhau. Thờ vua thời dốc một lòng son vì nước. Làm quan thì nhân từ, lợi dân. Làm bề trên thì khéo khiến mọi người an vui. Làm kẻ dưới thì siêng gắng phục vụ bề trên. Hoặc chỉ giáo kẻ ngu mê, hoặc phù trợ người cô quả, yếu đuối. Hoặc cứu người bị tai nạn. Hoặc rộng thí kẻ bần cùng. Hoặc dựng cầu, đào giếng. Hoặc thí cơm, cấp thuốc. Hoặc giảm sự tiêu xài của chính mình để làm lợi người khác. Hoặc dùng tiền của lợi người, giảm bớt chi dùng cho mình. Hoặc dạy người làm lành, hoặc giúp thiện, ngăn ác, chỉ tùy cơ mà làm hết thảy việc lành thế gian hay xuất thế gian, chẳng nệ lớn, nhỏ, ít, nhiều, Hoặc chỉ dùng một tiền cho người hoặc một cho một vốc nước đỡ khát, thậm chí một mảy may thiện sự, đều khởi niệm rằng: Nguyện thiện duyên này hồi hướng tây phương, các thiện giúp rập, quyết được vãng sanh.

36. Công tại thuần thục

Sách Long Thư Tịnh Độ chép: Mạnh Tử nói: Nhân cũng cốt ở thuần thục vậy. Nên quân tử trọn chẳng ở trong khoảng bữa ăn làm trái điều nhân. Chánh trực cũng bởi đấy, mà điên đảo cũng bởi đấy. Nếu làm được như vậy, thời không chỗ nào qua đến mà chẳng làm điều nhân. Người tu tịnh độ cũng thế. Phàm đi, đứng, ăn uống, nói năng, im lặng, động tịnh, đều chẳng quên tịnh độ. Thân này tuy sống trong ngũ trược, mà tâm đã ở tịnh độ. Ngài Tra Am nói: Hình mặt trời lặn như thể cái trống treo, ngồi xếp bằng ngay ngắn hướng mặt về Tây, thân tuy chưa đến liên trì, mà trước đã gởi lòng về Cực Lạc, chính là ý này vậy.

37. Mười điều lợi thù thắng

Từ Vân Sám Chủ nói: Tam giới đại sư, vạn đức từ phụ, quy y ngài thời tội diệt. Kính ngài thời phước sanh. Các kinh nói đầy đủ. Nếu hay quy y tam bảo, thọ trì danh hiệu một vị Phật, hiện đời sẽ được mười điều lợi thù thắng. Một là ngày đêm thường được hết thảy chư thiên, đại lực thần tướng ẩn hình thủ hộ. Hai là thường được hai mươi lăm vị bồ tát như Quán Thế Âm, thủ hộ. Ba là thường được chư Phật ngày đêm hộ niệm. A Di Đà Phật thường phóng quang minh nhiếp thọ người ấy. Bốn là hết ác quỉ, dạ xoa, la sát đều chẳng hại được. Rắn độc, thuốc độc, thảy đều chẳng hại. Năm là nước, lửa, oán tặc, đao, tên, gông cùm, tù ngục, chết ngang, thảy đều chẳng bị. Sáu là tội trước trót tạo, thảy đều tiêu diệt. Mạng trót giết oan đều được giải thoát, chẳng còn đối chấp. Bảy là đêm mộng điều tốt lành, thấy sắc tượng thắng diệu của Phật A Di Đà. Tám là tâm thường hoan hỉ, nhan sắc tươi nhuận, việc làm tốt lành. Chín là thường được hết thảy thế gian, nhân dân, cung kính, lễ bái, hệt như kính Phật. Mười là lúc mạng chung, tâm không sợ hãi, chánh niệm hiện tiền, A Di Đà Phật và các thánh chúng, cầm đài kim cang tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc thế giới, tột đời vị lai, hưởng sự vui mầu nhiệm thù thắng.

38. Hổ Khê tôn giả khai thị

a. Phàm người tu tịnh độ, rõ ràng là phải chống cự với sanh tử, chẳng thể nói xuông rồi thôi. Nên nghĩ vô thường vùn vụt. Thời gian chẳng đợi ai. Phải nên dốc chí thực hiện mới được, nếu nửa tiến, nửa lùi, tựa hồ tin, tựa hồ ngờ, mặc cho may rủi, như vậy làm sao thoát khỏi luân hồi. Nếu đã tin được, thì từ ngày nay trở đi, phát đại dũng mãnh, phát đại tinh tấn, đừng hỏi hiểu hay chẳng hiểu, kiến tánh, hay không kiến tánh, chỉ cần chấp trì một câu Nam Mô A Di Đà Phật hệt như nương tựa vào một tòa núi Tu Di, cố lay chẳng động, chuyên tâm, nhất ý, hoặc tham niệm, quán niệm, ức niệm, thập niệm, hoặc niệm thầm, niệm rõ, hệ niệm, lễ niệm, niệm chuyên một chỗ, thường nhớ thường niệm. Sáng cũng niệm, tối cũng niệm. Đi cũng niệm, ngồi cũng niệm, tâm niệm chẳng để luống qua, niệm Phật chẳng rời tâm, ngày ngày, giờ giờ, chẳng để buông bỏ, miên miên mật mật, như gà ấp trứng thường giữ cho hơi nóng liên tục, thời tịnh niệm liên tục, lại thêm trí chiếu, liền biết tịnh độ chính là tự tâm. Ấy mới là công phu của bậc thượng trí tu tấn. Quyết định được như thế để làm chủ, làm chỗ dựa an ổn. Ví gặp cảnh khổ, vui, thuận, nghịch hiện tiền, chỉ niệm A Di Đà Phật. Không một niệm đổi khác tâm, không một niệm tâm thối đọa. Không một niệm tạp tưởng tâm, cho đến hết đời, vĩnh viễn không có niệm khác, quyết định cầu sanh tây phương Cực Lạc thế giới. Nếu quả có thể dụng công như vậy, vô minh bao kiếp, sanh tử nghiệp chướng, tự nhiên tiêu sạch. Trần lao tập lậu tự nhiên sạch hết không sót. Chẳng lìa bổn niệm, tận mặt thấy đức A Di Đà. Công thành hạnh mãn, nguyện lực giúp rập, lúc mạng lâm chung, quyết sanh thượng phẩm.

b. Sự tu hành chơn tín, điều cốt yếu là cầu sanh tây phương Cực Lạc thế giới. Chuyên ý một niệm, trì một câu A Di Đà Phật. Chỉ một niệm này làm bổn sư của mình. Chỉ một niệm này chính là hóa Phật. Chỉ một niệm này là mãnh tướng phá địa ngục. Chỉ một niệm này là gươm báu chém các tà. Chỉ một niệm này là đèn sáng soi tan tăm tối. Chỉ một niệm này là thuyền lớn vượt đại khổ hải. Chỉ một niệm này là phương cách tốt lành thoát sanh tử. Chỉ một niệm này là đường tắt ra khỏi tam giới. Chỉ một niệm này là bổn tánh Di Đà. Chỉ một niệm này thấu duy tâm tịnh độ. Chỉ cần ghi nhớ được một câu A Di Đà Phật trong niệm, chớ để thất lạc. Niệm niệm thường hiện tiền, niệm niệm chẳng rời tâm. Vô sự cũng niệm như thế. Hữu sự cũng niệm như thế. An vui cũng niệm như thế. Bịnh khổ vẫn niệm như thế. Sống cũng niệm như thế. Chết cũng niệm như thế. Một niệm như thế phân minh chẳng mê, chẳng phải hỏi ai tìm đường về nữa!

39. Liên Trì đại sư khai thị

a. Vọng niệm là bịnh. Niệm Phật là thuốc. Bịnh lâu thì một viên thuốc chẳng trị hết nổi. Vọng niệm chất chứa chẳng phải tạm niệm trừ hết được. Lý lẽ nhất định như vậy. Chớ nề vọng niệm bời bời, chỉ quý tại niệm Phật tinh chuyên, khẩn thiết. Từng chữ phân minh. Câu, câu nối tiếp. Cực lực chấp trì, mới có phần xu hướng. Tức là sức chơn thật tích tụ lâu ngày, nên [đến] một ngày rỗng rang. Ví như mài chày làm kim, luyện sắt thành gang, quyết định chẳng dối. Nhập đạo lắm môn, chỉ có một môn này là đường vắn tắt nhất, chẳng thể coi thường, chớ có coi thường.

b. Đạo này chí huyền, chí diệu, lại rất mực giản dị. Vì giản dị nên bậc cao minh xem thường vậy. Phàm sanh tử chẳng lìa nhất niệm. Thậm chí muôn pháp thế gian, xuất thế gian chẳng rời nhất niệm. Nay liền đem cái niệm ấy niệm Phật, sao chẳng thiết tha, tinh chuyên, chơn thật. Nếu xét kỹ chỗ bắt nguồn của nhất niệm ấy, chính là tự tánh Di Đà, chính là ý của tổ sư tự phương Tây đến. Ví chẳng ngộ được, nương niệm lực ấy, vãng sanh Cực Lạc, vượt ngang sanh tử, chẳng chịu luân hồi, cuối cùng sẽ đại ngộ vậy. Xin buông bỏ muôn duyên, trong mười hai thời, niệm niệm khăng khăng, là điều tôi thật mong mỏi.

c. Hiếu của thế gian có ba. Hiếu xuất thế gian chỉ một. Cái hiếu thế gian, một là thừa hoan hầu hạ, dùng thức ngon lành dâng lên mẹ cha. Hai là đỗ đạt làm quan, dùng tước lộc vinh hiển mẹ cha. Ba là tu đức siêng hạnh, để thành thánh, thành hiền, để rạng rỡ mẹ cha. Ba điều ấy thế gian gọi là hiếu vậy. Cái hiếu xuất thế gian là khuyên cha mẹ trai giới, tu đạo, nhất tâm niệm Phật, cầu nguyện vãng sanh, vĩnh biệt tứ sanh, mãi rời sáu nẻo. Thai sen gởi chất, thân cận Di Đà, được bất thối chuyển. Người con báo hiếu lấy việc này làm trọng đại. Tôi khi xưa vừa chớm nhập đạo, song thân đã khuất, viết bài tự cảm thương, tự trách bất hiếu, thật là bi hận. Nay thấy trong chúng tại gia, xuất gia, có đủ may mắn, với sự ấy càng thêm cảm khái, lệ nhỏ ròng ròng. Gục đầu, rập đầu để khuyên, người ta với cha mẹ, chăm sóc, phụng dưỡng cho yên thì coi là hiếu. Lập thân hành đạo để làm rỡ mặt thì gọi đại hiếu. Khuyên dùng pháp môn niệm Phật ngõ hầu vãng sanh tịnh độ, là đại hiếu trong đại hiếu. Tôi sanh muộn vừa nghe được Phật pháp, mẹ cha đã khuất, thật là đau đớn ngập trời, tuy muốn đáp đền, không làm sao được. Xin thưa cùng mọi người, cha mẹ còn tại thế, sớm khuyên niệm Phật. Ngày cha mẹ mất, nên lễ tụng Phật ba năm. Chẳng được như vậy, hoặc trọn một năm. Hoặc trong bốn mươi chín ngày cũng được. Hiếu tử muốn báo cái ân cù lao, không thể không biết điều này.

d. Phàm người học Phật, chẳng cần hình dạng trang nghiêm, chỉ quý chơn thật tu hành. Tại gia cư sĩ chẳng nhất thiết phải áo dà khăn đạo. Người để tóc cứ mặc thường phục niệm Phật, chẳng nhất thiết phải phải gõ mõ khua khánh. Người thích yên tịnh, có thể yên lặng niệm Phật, chẳng bắt buộc phải quây quần lập hội. Người ngại việc có thể tự đóng cửa niệm Phật, chẳng cần phải đến chùa nghe kinh. Người biết chữ có thể tuân theo giáo pháp niệm Phật, chẳng cần phải nhờ người khác dạy niệm Phật. Ngàn dặm thiêu hương, chẳng bằng ngồi nhà niệm Phật. Cúng dường tà sư chẳng bằng hiếu thuận cha mẹ niệm Phật. Rộng kết giao bè bạn ma, chẳng bằng riêng mình thanh tịnh niệm Phật. Gởi tiền kho cho kiếp sau (1) chẳng bằng hiện tại làm phước niệm Phật. Hứa nguyện, cầu đảo chẳng bằng hối lỗi đích thân niệm Phật. Tập học sách vở ngoại đạo chẳng bằng một chữ không biết mà niệm Phật. Vô tri bàn xằng lẽ thiền, chẳng bằng chắc thật trì giới, niệm Phật. Mong cầu cảm thông yêu quỉ, chẳng bằng chánh tín nhân quả niệm Phật. Nói tóm lại, đoan tâm diệt ác, niệm Phật như vậy gọi là thiện nhân. Nhiếp tâm trừ tán, niệm Phật như vậy gọi là hiền nhân. Ngộ tâm đoạn hoặc, niệm Phật như thế gọi là thánh nhân.

e. Nói với Châu Tây Tông rằng: Bịnh của ngài đã đến nỗi này, thật là rất nguy vậy. Nên đem hết những điều muốn nói, viết hết ra giao cho lịnh lang và tôn đường, khiến trong dạ chẳng còn vướng víu điều gì, nhất tâm chánh niệm. Nếu bình nhật với pháp môn niệm Phật đã tin tưởng được, liền nên để tâm mục soi chiếu bên trong, bốn chữ Phật danh, vằng vặc ngời ngời, chẳng gián, chẳng đoạn, khiến cho ngày nay, ngài mai cũng đều như vậy. Ví như chẳng thác, sống đến một trăm hai mươi tuổi còn được. Đây là lời khẩn yếu, bằng hữu bấy lâu quen biết, chính là chỗ này. Mọi sự khác đều nhỏ nhặt, chẳng phải bận tâm đến. Chớ có vì tham sống sợ chết mà hỏng đại sự. Rất quan trọng đấy.

f. Bảo Vương Đại Trác: Với căn bịnh của ngài nên với mọi sự ngoài thân cùng tứ chi, trăm phần trong cái thân này đều nên bỏ sạch, khiến chẳng còn có một vật. Nếu chẳng thể buông bỏ, thì hãy tạm buông bỏ, đợi sau này, lửa vọng tưởng chẳng hại được, nên niệm Phật nhiều tiếng để chế ngự. Vinh hoa, phú quý thế gian chẳng qua là sự trong phút chốc, ách nạn, khổ não chẳng qua là sự trong phút chốc, khoảnh khắc thành không. Vả mọi sự đều thuộc duyên trước, chẳng phải sức người làm gì được! Tận tình buông xuống, nhất tâm niệm Phật, thật là thiết tha. Cổ nhân có nói: Bịnh là lương dược của chúng sanh. Vậy người mắc bịnh nên sanh hoan hỉ lớn. Với hết thảy điều chẳng như ý, chớ khởi phiền não. Lại nói sanh tử hữu mạng, nên người mắc bịnh nên sanh đại giải thoát. Mặc cho sanh tử, chớ sanh sợ hãi. Lại quá khứ như huyễn, hiện tại như huyễn, vị lai như huyễn, tận tình buông xuống, chỉ giữ chánh niệm mà thôi. Trong cơn bịnh ngàn vạn nhẫn nại, lòng chớ mong mỏi sớm được lành bịnh, lại chính là kế hay để chóng được hết bịnh vậy. Một phen đã ôm lòng nóng nảy thì bịnh càng nặng thêm. Nhớ kỹ, nhớ kỹ!

40. Hám Sơn đại sư khai thị

* Điều quan trọng thứ nhất trong tu hành là với sanh tử tâm khẩn thiết. Với sanh tử, tâm chẳng khẩn thiết sao dám nói là niệm Phật thành khối? Vả chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, niệm niệm vọng tưởng, tình căn lấp kỹ, hằng ngày chưa từng phản tỉnh. Nay muốn dùng cái tâm tin tưởng hời hợt đoạn sanh tử nhiều kiếp, khác nào giọt nước sao chữa nổi đống củi cháy, há có lý này chăng? Nếu đương nhân quả thật là tâm sanh tử khẩn thiết, niệm niệm như cứu đầu cháy, chỉ sợ một phen mất thân người, vạn kiếp khó có lại được. Lại cắn chặt một tiếng niệm Phật này, quyết định muốn cự lại vọng tưởng. Hết thảy xứ, niệm niệm hiện tiền, chẳng bị vọng tưởng lôi kéo, che chướng. Hạ công phu siêng nhọc như thế, lâu ngày thuần thục, tự nhiên tương ứng. Như vậy thì chẳng cầu thành một khối mà tự thành một khối. Việc này cũng như người uống nước, nóng, lạnh tự hay, bảo cho người khác chẳng được. Toàn là sức của mình. Nếu chỉ niệm Phật ngoài da, nhọc nhằn năm tháng cũng chẳng được gì.

* Mỗi ngày trừ hai thời công khóa, chỉ đem một câu A Di Đà Phật đặt ngang nơi ngực, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng mê. Với hết thảy sự đời chẳng nghĩ ngợi gì đến. Chỉ lấy một câu Phật hiệu làm mạng sống chính mình. Cắn chặt nơi hàm răng, quyết chẳng buông bỏ, thậm chí ăn uống, cử động: đi, đứng, nằm ngồi, một tiếng niệm Phật này, thời thời hiện tiền. Nếu gặp cảnh giới thuận, nghịch, vui, giận, phiền não, lúc tâm chẳng yên, bèn đem một tiếng niệm Phật khởi lên một phen, liền thấy phiền não ngay khi ấy tiêu diệt. Bởi niệm niệm phiền não là gốc khổ sanh tử. Nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não, chính là Phật độ nỗi khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tiêu được phiền não, liền có thể hết khỏi sanh tử, không có pháp gì khác. Nếu niệm Phật đến khi làm chủ được phiền não, thì làm chủ được mộng mị. Nếu trong mộng đã kiểm soát được thì trong khi bịnh khổ cũng làm chủ được. Nếu đã làm chủ được [bản thân] trong khi bịnh tật, thì lúc mạng lâm chung, liền biết chỗ sanh về. Sự này chẳng khó làm, chỉ cần là với một niệm với sanh tử, tâm khẩn thiết. Chỉ cần dựa vào một mình tiếng niệm Phật không còn suy nghĩ chi khác. Lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đại an lạc, được đại thọ dụng.

41. Tử Bách lão nhân khai thị

* Cái nghĩa niệm Phật cầu sanh tịnh độ cốt tại suốt đời trì niệm. Đến khi lâm chung, nhất tâm bất loạn. Chỉ biết Sa Bà là chốn cực khổ, tịnh độ là cõi rất vui. Ví như cá, chim, thân trong lồng, chậu, tâm mong thoát khỏi lồng, chậu. Người niệm Phật coi Sa Bà là lồng, chậu, xem tịnh độ là không gian, là nước. Chê chán, và hâm mộ thuần thục, nên lúc xả mạng, cái ham muốn Sa Bà chẳng còn chừng bằng hạt cải. Cho nên chẳng luận là tội nghiệp nặng, nhẹ, vãng sanh ngay, chẳng ngờ chi vậy.

* Pháp môn niệm Phật, cốt ở chí quyết định. Chỉ giữ nhất niệm, như đại tướng thân bị vây hãm nặng nề, quyết chí đột xuất. Một người một thanh đao, đối địch vạn người, mạnh mẽ như vậy, thời oán địch sanh tử, các khổ ma quân chẳng đánh mà tự tan vậy.

42. Khẩu quyết niệm Phật của Thảo Am thiền sư

A Di Đà Phật có ai chẳng niệm nổi, nhưng lại khó niệm. Tây phương Cực Lạc ai chẳng nguyện sanh, mà rất ít kẻ được sanh. Ấy bởi vì người niệm Phật chưa nắm được bí quyết vậy. Niệm Phật phải cho thật chân thành, thiết tha, chỉ nghĩ đến một chữ chết mà thôi. Một chữ chết luôn ghi trong mỗi niệm, thì với cảnh duyên tự nhiên lãnh đạm. Tình ái cũng tự mỏng nhẹ. Danh lợi, giàu có nơi đời, đến khi ấy đều chẳng dùng được. Thấy nghe hay biết đến chừng ấy muốn cũng chẳng làm gì được. Tứ đại đều lìa, nương dựa vào đâu? Cô hồn vô chủ, sao được tự do. Khi ấy, chẳng thấy Di Đà, sợ gặp la sát. Khi ấy, chẳng sanh tịnh độ, sợ vào thai lừa. Ví không ác nghiệp cũng chẳng khỏi trở vào nhân đạo. Dẫu có nhân lành, chưa từng khỏi phước trời dễ hết. Chớ bảo tự có chủ tể. Nghiệp quả kéo lôi, thật khó trốn tránh. Chớ bảo vốn không sanh tử, thức tâm chưa tận, trọn thuộc luân hồi. Chớ với điều này dễ ngươi, việc ngày mai, hôm nay chẳng biết. Chớ xem việc này là nhẹ, luống uổng đời này, trầm luân vĩnh kiếp. Hết thảy mọi sự chẳng gì bằng với sanh tử đại sự, nên chẳng thiết hết thảy sự. Trong hết thảy lúc, đều coi là lúc lâm chung, thì thời nào cũng là thời niệm Phật. Niệm Phật như thế mới là tâm khẩn thiết. Tâm khẩn thiết như vậy mới sanh tịnh độ. Phải chí tử hạ thủ công phu, mới thành tịnh nghiệp. Thường nghĩ đến lúc chết, tâm mới thiết tha. Phải như vậy mới có thể đạt đến thành Phật, đấy mới là bí quyết niệm Phật chơn thành.

43. Ngẫu Ích đại sư khai thị

Công phu niệm Phật, quý tại tâm tin chơn thật. Điều cốt yếu thứ nhất là tin rằng ta là Phật chưa thành. A Di Đà Phật là Phật đã thành. Thể của ta và Phật không hai. Kế đó, tin Sa Bà thật sự là khổ. Cõi An Dưỡng thật đáng nương về. Ưa, chán rành rành. Kế đến, tin nhất cử, nhất động hiện tại đều có thể hồi hướng cõi Tây phương. Nếu chẳng hồi hướng thì dẫu sự lành bậc thượng cũng chỉ vãng sanh bậc hạ. Nếu biết hồi hướng, tuy lầm lỡ tạo ác hạnh, lại mau đoạn cái tâm tương tục, khởi lòng ân cần sám hối. Nhờ sức sám hối cũng được vãng sanh. Huống hồ trì giới, tu phước, các thứ thắng nghiệp, há chẳng đủ để trang nghiêm tịnh độ ư? Chỉ vì tín lực chẳng sâu, thắng nghiệp lẫn trong hữu lậu. Lại toan bỏ điều này, so đo pháp khác, thật là lầm quá lầm vậy. Chỉ càng phải thêm tin chơn thật, hết thảy hành động chẳng cần phải thay đổi.

44. Triệt Ngộ thiền sư khai thị

* Hết thảy pháp môn, lấy minh tâm làm cốt yếu. Hết thảy hạnh môn dùng tịnh tâm làm điều quan yếu. Mà pháp thiết yếu để minh tâm không chi bằng niệm Phật. Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật, chẳng nhọc phương tiện, tự được tâm khai. Như vậy, niệm Phật chẳng phải là lẽ cốt yếu để minh tâm hay sao? Lại với pháp thiết yếu để minh tâm, cũng không chi bằng niệm Phật. Một niệm tương ứng với một niệm Phật. Niệm niệm tương ứng với niệm niệm Phật. Thanh châu bỏ trong nước đục, nước đục chẳng thể không trong. Phật hiệu gieo vào tâm loạn, tâm loạn chẳng thể chẳng là Phật. Niệm Phật như vậy há chẳng phải thiết yếu cho tịnh tâm sao? Một câu Phật hiệu gồm đủ cả hai thứ quan yếu: ngộ và tu. Vừa ngộ thời tin vào đấy, vừa tu là chứng trong đấy. Tín giải tu chứng, cùng gộp các thừa: đại, tiểu. Cốt tủy các kinh không chi chẳng bao gồm hết. Vậy thì một câu Di Đà chẳng phải là đạo trọng yếu nhất hay  sao?

* Một niệm hiện tiền của bọn ta toàn chơn thành vọng, toàn vọng thành chơn. Trọn ngày chẳng đổi, trọn ngày tùy duyên. Hễ chẳng duyên theo Phật giới để niệm Phật giới thì niệm cửu giới. Chẳng niệm tam thừa thì niệm lục phàm. Chẳng niệm nhân thiên, thì niệm tam đồ. Chẳng niệm quỉ, súc sanh thì niệm địa ngục. Hễ đã có tâm, chẳng thể vô niệm. Dùng vô niệm làm tâm thể, chỉ mình Phật chứng. Tự bậc Đẳng Giác trở xuống, thảy đều hữu niệm. Hễ khởi lên một niệm, ắt lạc vào mười giới. Lại chẳng có niệm nào ra khỏi mười giới. Vì chẳng có chi ngoài mười pháp giới vậy. Mỗi một niệm khởi lên là cái duyên một lần thọ sanh. Biết tỏ lý này, mà chẳng niệm Phật thì thật là chưa từng có vậy.

* Cái quý trọng nhất trong đời không gì hơn tinh thần. Cái đáng mến tiếc nhất trong đời không chi hơn ngày tháng. Một niệm tịnh thì Phật giới duyên khởi, một niệm nhơ chính là cái nhân sanh ra cửu giới. Hễ móng một niệm, thì thành ra chủng tử của thập giới, chẳng đáng cẩn trọng sao? Ngày hôm nay đã qua, mạng cũng theo đó mà giảm. Một tấc thời quang chính là một tấc mạng quang, chẳng đáng tiếc nuối sao? Đã biết tinh thần đáng trân trọng thời chẳng lãng phí. Niệm niệm chấp trì danh hiệu Phật, quang âm chẳng luống qua. Khắc khắc huân tu tịnh nghiệp.Ví bỏ qua danh hiệu Phật, tu các thánh hạnh tam thừa khác cũng còn là lãng phí tinh thần. Cũng là đem cái nỏ ngàn cân để bắn chuột cống, huống hồ là tạo cái nghiệp sanh tử lục phàm ư? Giả sử bỏ qua tịnh nghiệp, riêng nhận lấy quyền thừa tiểu quả, cũng còn là luống uổng quang âm, cũng là đem như ý bảo châu đổi lấy một bữa cơm, manh áo. Huống là chấp lấy quả thiên nhân hữu lậu! Trân trọng thế ấy, nuối tiếc thế ấy thì tâm chuyên nơi Phật dễ cảm, hạnh siêng mà nghiệp dễ tinh, chắc chắn sẽ được sanh tịnh độ, tận mặt gặp gỡ Phật Di Đà. Khi ấy, vâng lời Phật khai thị, đích thân hầu cận đấng Từ Tôn, diệu ngộ tự tâm, thâm chứng pháp giới, kéo dài một niệm thành cả kiếp, rút ngắn cả kiếp dài dặc thành một niệm. Niệm, kiếp viên dung, được đại tự tại. Chẳng tiếc nuối, trân trọng hay sao!

* Một người nghèo túng xa trông thấy một xâu tiền, toan đến lượm lấy, hóa ra là con rắn, liền đứng phắt qua một bên. Lại một người khác đi đến, trông thấy xâu tiền bèn nhặt đem đi. Đấy là tiền chẳng phải là rắn, mà thấy là rắn vì do nghiệp cảm vời, duy tâm sở hiện vậy. Con rắn trên đống tiền, là nghiệp cảm tâm hiện, mà tiền trên rắn lại chẳng phải là tâm nghiệp cảm hiện ư? Rắn ở trên tiền là vọng kiến do biệt nghiệp của một người. Tiền ở trên rắn là vọng kiến của nhiều người đồng phận. Với vọng kiến của một người thì cái vọng ấy dễ biết. Vọng kiến của nhiều người, vọng ấy khó hay. Đem cái dễ biết để sánh cái khó biết, cái khó biết cũng là dễ biết. Rắn đã là rắn, mà tiền cũng là rắn. Suy đây mà thấy: căn thân bên trong, cảnh giới bên ngoài, từ một phương đến mười phương và bốn đại bộ châu, tam thiên đại thiên thế giới đều cũng như rắn ở trên tiền. Chỉ có điều con rắn duy tâm đã hiện ấy lại cắn được người, tiền do duy tâm hiện cũng có thể hưởng dụng. Chớ bảo duy tâm là không ngoại cảnh. Sự uế khổ của Sa Bà, sự vui trong sạch cõi An Dưỡng đều duy tâm hiện. Với cái uế duy tâm đã hiện, thời bị bức bách lớn. Với sự vui trong sạch duy tâm đã hiện được hưởng dụng lớn. Uế khổ, tịnh lạc đã do tâm hiện, thì sao chẳng bỏ cái uế khổ duy tâm, chọn lấy cái tịnh lạc duy tâm, mà trải qua bao kiếp dài lâu, cam chịu tám khổ nung nấu vậy.

* Cái ải sanh tử của bọn chúng ta chỉ có hai thứ lực. Một là tâm vấn vít nhiều mối, nặng nề vuớng lấy, đó là tâm lực. Hai là như người mắc nợ, kẻ nào mạnh hơn lôi đi trước. Đấy là nghiệp lực. Nghiệp lực rất lớn, tâm lực còn lớn hơn. Do nghiệp không tự tánh, toàn nương vào tâm. Tâm hay tạo nghiệp, tâm chuyển được nghiệp. Nên chỉ có tâm lực là nặng. Nghiệp lực tuy mạnh, có thể lôi đi luân hồi. Nhưng nếu dùng tâm trân trọng, mà tu tịnh nghiệp, thì tịnh nghiệp mạnh. Tâm trọng, nghiệp cường chỉ có thể thẳng đến tây phương. Mai sau báo hết mạng tận, nhất định sanh về Tây phương, chẳng sanh chốn khác. Như cây to, tường lớn, lúc bình thường đã nghiêng về tây, đến ngày nào đó đổ xuống, quyết định chẳng đổ sang chỗ khác.

* Một niệm hiện tiền, cái tâm năng niệm của bọn ta toàn chơn thành vọng. Toàn vọng tức là chơn. Trọn ngày tùy duyên bất biến, một câu Phật hiệu được niệm, toàn là do đức lập danh. Ngoài đức không danh, dùng danh chiêu đức. Ngoài danh không đức. Ngoài tâm năng niệm, không có riêng vị Phật được niệm, không có riêng cái tâm năng niệm. Năng, sở chẳng hai. Chúng sanh và Phật rành rành, vốn lìa tứ cú, vốn tuyệt bách phi. Vốn trọn hết thảy, vốn chứa hết thảy, tuyệt đãi viên dung, chẳng thể nghĩ bàn. Hành giả liên tông nên từ nơi đây mà tin nhập.

* Hết thảy chúng sanh bổn lai là Phật. Chơn tâm vốn có, vọng tánh vốn không. Hết thảy pháp tánh vốn tự đủ. Chỉ vì chạy theo cái duyên mê nhiễm đã lâu, chưa đoạn được cái vọng nguyên không, chưa chứng được cái chơn vốn có. Gốc lành trọn chưa từng tu, Phật [trong tâm mình] vốn là chưa thành. Nay muốn đoạn cái vọng vốn không, chứng cái chơn vốn có, tu cái lành vốn trọn đủ, thành được vốn là đức Phật, ngộ được tịnh duyên, cầu thẳng đường tắt thật nhanh, chí đốn, chí viên, thời không chi bằng một hạnh trì danh niệm Phật. Do cái tâm năng niệm vốn là toàn chơn thành vọng, toàn vọng tức chơn. Đức Phật được niệm cũng vốn là toàn đức lập danh, toàn danh tức đức. Ngoài tâm năng niệm không có riêng một vị Phật được niệm. Ngoài đức Phật được niệm, không có riêng cái tâm năng niệm. Năng, sở đều mất. Tâm, Phật nhất như. Trong niệm, niệm, điều phục trọn vẹn, đoạn trừ trọn vẹn ngũ trụ phiền não, chuyển biến trọn vẹn, diệt trọn vẹn ba tạp nhiễm chướng, phá trọn vẹn ngũ ấm, siêu xuất trọn vẹn ngũ trược, viên tịnh bốn cõi, niệm trọn vẹn tam thân, tu trọn vẹn vạn đức, chứng trọn vẹn bổn chơn, viên thành vô thượng diệu giác. Một niệm như vậy, niệm niệm cũng thế. Chỉ cần niệm niệm nối tiếp, thì chế phục, đoạn trừ, tu chứng chẳng thể nghĩ bàn được. Do tâm này toàn là Phật, niệm Phật của toàn tâm, thật có tự tâm Phật quả, toàn phần oai đức thần lực, thầm huân gia bị. Một câu Phật hiệu chẳng lẫn duyên khác. Mười niệm công thành, đốn siêu nhiều kiếp. Với điều này chẳng tin thì thật giống như gỗ, đá. Bỏ pháp này tu pháp khác, không là cuồng cũng là si. Biết còn nói gì được, biết còn nói gì đây!

* Ngay lúc niệm Phật, chẳng nên có ý tưởng khác. Chẳng có tưởng khác, chính là chỉ. Trong lúc niệm Phật cần phải rành rẽ phân minh. Rành rẽ phân minh chính là quán. Trong một niệm đủ cả chỉ, quán. Chẳng phải chỉ riêng có chỉ quán, chỉ chính là nhân của định. Quán là nhân của huệ. Huệ là quả của quán. Một niệm chẳng sanh rành rẽ phân minh là tịch mà chiếu. Rành rẽ phân minh một niệm chẳng sanh chính là chiếu mà tịch. Có thể làm như vậy, thì tịnh nghiệp quyết không chi chẳng thành. Thành được như vậy, đều là thượng phẩm. Một người cho đến trăm ngàn vạn ức người tu như thế đều thành tựu như thế. Người niệm Phật há chẳng lưu tâm sao?

45. Lời khuyên niệm Phật vãng sanh của Trần Hy Nguyện

Các vị thiện nhân, thế gian tu hành có ngàn con đường, có vạn nẻo đường. Cớ sao chỉ khuyên người niệm Phật? Ấy bởi một niệm của con người rất là quan trọng, lôi hồn dẫn phách, tạo mạng sanh thân, không gì chẳng do nó? Niệm lành lên thiên đường, niệm ác xuống địa ngục. Một niệm thẳng làm người, một niệm ngang thành thú. Cớ sao thành ngạ quỉ? Chỉ bởi niệm chẳng no. Niệm ma lại thành ma, niệm Phật liền thành Phật. Nếu muốn thoát lục đạo, trừ phi chỉ niệm Phật. Còn chẳng niệm Phật, một phen mất thân người, muôn kiếp khó được. Thế nên đức Thích Ca Như Lai khai thị niệm Phật. Viễn công pháp sư (tổ Huệ Viễn) hoằng dương niệm Phật. [Đừng ngờ] niệm Phật chẳng thể hết sanh tử, Phật, tổ há chịu dối người? Niệm Phật chẳng thành Phật, lỗi ấy chẳng tại Phật. Miệng niệm, tâm chẳng niệm, tuy niệm mà như chẳng niệm. Dù có niệm cả đời trọn chẳng có ích gì? Chữ niệm từ tâm, vốn chẳng từ miệng. Niệm từ tâm khởi, tiếng từ miệng ra. Tâm Phật, miệng Phật, niệm niệm nối nhau, chẳng bị vọng duyên xen tạp, đó gọi là nhất tâm bất loạn. Hoặc nói: Có ngàn Phật, vạn Phật, cớ sao chỉ niệm A Di Đà Phật? Do nhân địa của ngài có bốn mươi tám nguyện, trang nghiêm Cực Lạc, thề độ kẻ mê. Trong các nguyện ấy, có nguyện: Mười phương thế giới, hết thảy chúng sanh nếu xưng danh ta, ắt sanh nước ta. Nếu chẳng được vậy, thề chẳng thành Phật. Vì vậy thế gian, dù tăng hay tục, già, trẻ, hiền, ngu, không ai chẳng xưng niệm A Di Đà Phật. Ô hô! Nhân gian phú quý, trăm tuổi thành không. Phồn hoa cõi trời ngàn năm cũng hết. Một khi sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, thì sống lâu vô lượng, mà cái pháp vãng sanh chỉ độc một câu Di Đà. Thế gian có sự thật quá tiện nghi thế ấy, ai lại chẳng khứng theo, nào nghĩ đến chuyện đi giày sắt tầm đạo. Từ nay trở đi, gấp nên phát ra thệ nguyện: Nếu tôi chẳng niệm Phật, chẳng cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới thì trọn làm quỉ, súc, sanh địa ngục vậy. Ba tạng mười hai bộ nhường cho kẻ khác ngộ, tám vạn bốn ngàn môn, dành cho kẻ khác hành. Ngoài một câu Nam mô A Di Đà Phật ra, không làm gì khác. Ai nấy nên tự quét dọn một gian tịnh thất, cúng một bức tượng Phật, mỗi ngày đốt một lò hương sạch. Thay một chén nước trong, đêm xuống thắp một ngọn đèn sáng. Với tượng vẽ trên giấy hay khắc bằng gỗ, coi như Phật thật, sáng viếng chiều thăm, tất thành tất kính. Một xâu chuỗi chẳng rời tay, một câu Di Đà chẳng ngơi miệng. Cao tiếng niệm, niệm nhỏ tiếng. Niệm sáu chữ, niệm bốn chữ, niệm gấp, niệm thong thả, niệm rõ ràng, niệm thầm, chắp tay niệm, quì gối niệm, đối Phật niệm, hướng về tây mà niệm, gõ mõ niệm, lần chuỗi niệm, đi kinh hành niệm, lễ bái niệm, niệm một mình, niệm chung với người khác. Niệm trong nhà, niệm ngoài đường, nhàn cũng niệm, bận cũng niệm, đi cũng niệm, đứng cũng niệm, ngồi cũng niệm, nằm cũng niệm, trong mộng cũng niệm, ấy mới là chơn niệm. Niệm đến tâm xót lệ ứa, niệm đến lửa tắt tro tạnh, niệm cho thần gào, quỉ khóc. Niệm đến trời vui đất mừng. Vạc sôi sau lưng, ao sen trước mặt, dẫu ngàn vạn người ngăn ta không cho niệm cũng chẳng làm gì nổi.

46. Lời khuyên hai việc nên làm, ba điều chẳng nên làm khi niệm Phật của Tích Minh cư sĩ

a. Niệm Phật nên cầu sanh tịnh độ

Trồng dưa được dưa, gieo đậu được đậu. Niệm Phật tự được thành Phật. Người đời chẳng biết Cực Lạc tịnh độ ai ai cũng đến được. Trong tâm trước tự khuấy động ngờ vực, mơ tưởng phước báo đời sau, đến nỗi niệm Phật cả đời chẳng được thành. Đấy chẳng phải đức Phật buông lời dối gạt. Chỉ do tự mình chẳng chịu tuân hành, bon vào lối bậy. Kính xin người niệm Phật, tin đến mười phần, hạnh đến mười phần, chín phẩm đài sen chắc chắn có phần.

b. Niệm Phật nên rộng làm các điều lành

Sa Bà như biển khổ, niệm Phật hệt ngồi thuyền, tịnh độ dường đến bờ kia, tích thiện như cánh buồm, bánh lái. Trong kinh tuy nói lâm chung thập niệm, có thể đới nghiệp vãng sanh. Đấy là do đời trước tu tập, nhất niệm hồi quang, đốn siêu tam giới, chẳng phải nhờ may mà được. Dẫu biết rõ chẳng nên làm ác, mà còn mặc ý làm càn. Đến lúc lâm chung mười niệm, thiên địa, quỉ thần há dung túng mánh khóe ấy sao? Bao nghiệp cảnh từ trước hiện tiền, một chữ Phật niệm còn chẳng ra, huống là niệm nổi mười niệm. Kính xin người niệm Phật nên với các điều ác chớ làm, phụng hành các điều thiện. Thực hành tám chữ ấy để làm trợ hạnh, trọn đời gìn giữ, suốt đời lấy đó làm thể, ngõ hầu cao đăng thượng phẩm.

c. Niệm Phật chẳng thể kiêm tà giáo

Niệm Phật là pháp môn chánh đại, tuy coi là bình thường, thật ra rất viên đốn. Chỉ sợ ngu phu, ngu phụ nửa đường chán lười, bị người dụ vào các giáo thuyết tà ma ngoại đạo, trở lại coi thường một môn tịnh độ. Lúc sống phạm trọng hình, khi chết đọa địa ngục. Đau thay xót thay! Dám khuyên người niệm Phật, niệm cho thật thuần thục, niệm tới nhất tâm bất loạn, tự nhiên hoa nở thấy Phật, đừng tróc quái cầu thần, vọng sanh ý tưởng khác. Toàn là vô ích, lại còn tự hại.

d. Niệm Phật chẳng nên dùng tiền (vàng mã)

Đại pháp xuất thế không chi bằng niệm Phật. Thường thấy người đời tín căn bất chánh, cho rằng niệm Phật sau khi chết đi, khá nên dùng tiền. Chỉ nghĩ  khi lâm chung điên đảo, có thể dùng tiền mua chuộc cõi âm, chẳng biết hồi hướng tịnh độ, há chẳng phải là lầm lạc lớn sao! Dám xin người niệm Phật phải nên quy y Phật A Di Đà, và Quán Âm, Thế Chí các đại bồ tát, quyết định nương dựa vào cái nhân niệm Phật thù thắng này, cầu sanh tịnh độ. Mãi mãi thoát khỏi tam giới, để báo tứ ân, muôn phần chẳng pháp chi bằng nổi với đại pháp xuất thế này. Hãy thực hành chăm chú [pháp này] làm lệ phí trả cho sứ giả vô thường. Mong lắm thay!

e. Niệm Phật chẳng thể sát sanh càn

Niệm Phật lấy từ bi làm gốc. Như chẳng ngăn dè giết chóc, thì công hiệu giảm thiểu. Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, bao kiếp đến nay, cùng làm quyến thuộc. Giết kẻ khác nuôi mình, sao đành cam lòng? Dám khuyên người niệm Phật, mỗi lúc thò đũa gắp, thường nghĩ như vậy, mới tự có thể thôi ăn mặn, chóng thành tịnh nghiệp. Hoặc chẳng thể trường trai, thời trước cần phải tránh giết hại. Nếu có thể giữ vững sáu ngày chay, cũng được vãng sanh, thói sát sanh sao chẳng đoạn được!

* Ghi chú về lục trai, nguyệt trai

Lục trai: mỗi tháng sáu ngày: mồng tám, mười bốn, rằm, hăm ba, hăm chín, ba mươi. Tháng thiếu thì lấy ngày hăm tám, hăm chín làm ngày ăn chay.

Nguyệt trai: Mỗi năm lấy ba tháng giêng, tháng năm, tháng chín, ăn chay trọn tháng. Nếu chẳng thể ăn chay ba tháng thì trong ba tháng này kiên giết hại.

Kinh nói: Tứ thiên vương mỗi tháng sáu ngày tuần hành Nam Thiệm Bộ Châu. Mồng tám, Tam Thế sứ giả tuần hành. Mười bốn, hăm chín, thái tử tuần hành. Mười lăm, ba mươi: thiên vương đích thân đi tuần, khảo sát nhân gian kẻ nào hiếu thuận cha mẹ, kẻ nào lòng trung báo đáp ơn vua. Kẻ nào chánh trực công bình, kẻ nào từ bi phương tiện. Kẻ nào quy y tam bảo, giới sát, trì trai, rộng tu các thiện. Với những kẻ như vậy, tăng thêm phước thọ. Kẻ nào ngỗ nghịch mẹ cha, kẻ nào bội phản quân vương, kẻ nào khi dối gian xảo, kẻ nào cương ngạnh bạo ngược, kẻ nào chẳng tin tam bảo, kẻ nào giết càn sanh mạng, rộng gây các ác. Với những kẻ như vậy, tiêu phước diệt thọ. Lại trong ba tháng giêng, tháng năm, tháng chín, thiên vương được phân công trấn giữ Nam Thiệm Bộ Châu, khảo sát tội phước. Lại Thiên Đế Thích tháng giêng, tháng năm, tháng chín, dùng gương báu lớn, chiếu thẳng xuống Nam châu, khảo sát tội phước. Có đáng sợ không? Có đáng dè dặt không?

Sáu ngày trai này, ba tháng trai ấy, phải nên trai giới niệm Phật, sám hối tu tỉnh. Sáu ngày trai này, ba tháng trai ấy tu trai, làm phước, công đức càng lớn. Ngược lại, gây ác, tội nghiệp càng sâu. Như chẳng thể ăn chay trọn tháng, thì phải giữ sáu ngày chay. Còn như ngày ngày ăn chay, ngày ngày niệm Phật, ngày ngày tu phước, đem nhân lành ấy hồi hướng vãng sanh. Lúc người ấy lâm chung, quyết định không bị các bịnh khổ, được A Di Đà Phật đích thân đến rước. Trong khoảng một niệm, được sanh An Dưỡng.

47. Ấn Quang đại sư khai thị

* Một việc niệm Phật cần yếu nhất là thoát sanh tử. Đã là thoát sanh tử, thì với cái khổ sanh tử tự sanh tâm nhàm. Với cái vui Tây phuơng, tự sanh tâm thích. Như vậy thì hai pháp tín, nguyện ngay trong từng niệm được vẹn đủ. Lại thêm chí thành khẩn thiết như con nhớ mẹ mà niệm thời Phật lực, pháp lực, tự tâm tín nguyện công đức lực, ba pháp cùng hiển bày trọn vẹn. Ví như mặt trời mọc lên giữa hư không, dẫu có sương dầy, băng đọng, thì chẳng lâu cũng sẽ tan mất.

* Người ở trong đời nhất nhất phải giữ bổn phận làm người, chẳng nên toan tính những chuyện ngoài bổn phận mình. Tức là: quân tử nghĩ sao cho chẳng sai với địa vị của mình. Lại nói: Quân tử giữ trong sạch địa vị của mình mà hành động. Phải biết với việc thoát sanh tử, kẻ ngu phu, ngu phụ lại dễ, vì tâm họ chẳng có dị kiến, phải thông tông, hiểu giáo mới có thể hiểu cái việc buông bỏ cái thân. Ngu phu, ngu phụ hạ thủ công phu lại cũng dễ. Trái lại, bậc cao nhân thông tông, hiểu giáo lại chẳng bằng ngu phu, ngu phụ có thể đới nghiệp vãng sanh. Pháp môn tịnh độ lấy vãng sanh làm chủ. Tùy duyên tùy phận, chuyên tinh chí mình. Phật quyết chẳng dối người, không cầu thăng lên, ắt đọa xuống, chính là tự mình lầm lạc. Há có phải lỗi của Phật đâu?

* Thân người khó được, khó sanh ở chính giữa đất nước. Phật pháp khó nghe, sanh tử khó thoát. Chúng ta may được làm người, sanh ở giữa nước lớn, được nghe Phật pháp. Những kẻ chẳng may, tự thẹn nghiệp sâu chướng nặng, không sức đoạn hoặc, mau thoát tam giới liễu sanh thoát tử vậy. Lại may được nghe đức Như Lai ta tâm bi triệt để, nói ra phương tiện đại quyền xảo hay lạ: pháp môn tịnh độ, khiến phàm phu lè tè sát đất được đới nghiệp vãng sanh. Thật chẳng còn gì may mắn lớn lao hơn. Nếu chẳng phải từ vô lượng kiếp đến nay gieo sâu căn lành, làm sao nghe được pháp chẳng nghĩ bàn này. Chẳng gấp sanh lòng tin chơn thật, phát nguyện cầu sanh ư?

* Một pháp niệm Phật trọng tại tín, nguyện. Tín nguyên chơn thiết, tuy chưa thể trong tâm thanh tịnh, vẫn được vãng sanh. Vì sao vậy? Do chí tâm niệm Phật nên cảm được, thế nên đức A Di Đà Phật liền ứng. Như nước trong sông biển, chưa thể hết tướng lay động, chỉ cần không có cuồng phong, sóng lớn, thì vầng trăng sáng trên không liền hiện rành rành. Cảm ứng đạo giao như mẹ con tưởng nhớ nhau. Những kẻ chuyên dùng tự lực, chẳng cậy vào Phật lực, không cách chi thấu hiểu nổi nghĩa này.

* Niệm Phật tuy quý ở tâm niệm, cũng chẳng nên bỏ miệng tụng. Do thân, khẩu, ý ba thứ hỗ tương giúp nhau. Nếu tâm hay ức niệm, thân chẳng lễ kính, miệng chẳng trì tụng, cũng khó được ích. Thế gian mỗi khi nâng vật nặng, còn phải dùng tiếng hò la để giúp sức. Huống là muốn nhiếp tâm để chứng tam muội? Vì vậy, kinh Đại Tập dạy: Đại niệm thấy đại Phật, tiểu niệm thấy tiểu Phật. Cổ đức bảo niệm Phật lớn tiếng thì thấy thân Phật lớn, niệm nhỏ tiếng thì thấy thân Phật nhỏ. Nay đã là phàm phu đủ cả triền phược, tâm nhiều hôn tán, nếu chẳng dùng sức thân, miệng lễ tụng, mà muốn được nhất tâm, chưa từng thấy ai được vậy.

* Tâm tham, sân, si, ai ai cũng có. Nếu biết đấy là bịnh, thì tham sân si khó lừng. Ví như kẻ cắp vào nhà người. Ông chủ trong nhà nếu nhận lầm làm người nhà, thì của báu cả nhà đều bị trộm cắp hết sạch. Nếu biết là kẻ trộm, chẳng cho nó được thong thả lưu lại nhà mình một khắc, ắt đuổi nó đi thật xa khuất mắt, nên tiền của chẳng mất, mà chủ nhân được yên ổn vậy. Cổ đức dạy: Chẳng sợ niệm khởi, chỉ e biết chậm. Tham sân si một phen nổi lên, lập tức biết rõ, thì lập tức tiêu diệt. Nếu coi tham, sân, si chính là chủ của nhà mình, cũng như nhận giặc làm con, tiền của trong nhà tiêu tán hết.

* Người niệm Phật cần phải với sự sự tâm thường trung thứ, tâm tâm đề phòng lỗi lầm. Biết lỗi liền sửa, thấy việc nghĩa thì mạnh mẽ làm mới xứng hợp với Phật. Người được như vậy quyết định vãng sanh. Nếu chẳng như thế khó tương ứng với Phật, quyết định khó cảm thông.

* Phàm phu đổi lỗi theo thiện, lại tu tịnh nghiệp, cốt phải chơn thành, tối kỵ hư giả. Chẳng được bên ngoài phô phang hành thiện, tu hành, trong tâm chẳng trung, chẳng thứ. Cừ Bá Ngọc đức hạnh đến tuổi năm mươi, vẫn biết lỗi của bốn mươi chín năm trước. Có như vậy, mới mong thành thánh, thành hiền, học Phật, học tổ, thành bậc công thần danh giáo, làm con đíchh thật của đấng Như Lai, chớ chẳng phải cốt làm bậc trưởng thượng trong hàng tăng, tục vậy.

* Người học đạo cư tâm lập hạnh, cần phải chất trực, trung chánh, chẳng nên có chút tơ hào riêng tây, ủy khuất. Ví có chút thiên vị, khác nào cái mực chuẩn của đòn cân chẳng chuẩn, cân các vật thành ra nặng, nhẹ sai lầm. Như thể chất của gương bất tịnh nên soi các vật lệch lạc chẳng đúng. Sai bằng tơ tóc, mất đến nghìn trùng. Xoay vần càng thêm sai lệch, ai ngăn ngừa nổi. Vì vậy, kinh Lăng Nghiêm nói: Mười phương Như Lai cùng một đạo vậy. Xuất ly sanh tử, đều do chơn tâm. Tâm chất trực như thế cho đến các địa vị chung, thỉ, trung gian, vĩnh viễn không có các tướng ủy khúc.. Nên biết thánh thế gian, xuất thế gian đều dùng cái tâm chất trực, trung chánh làm gốc.

* Làm con người, phải làm rạng rỡ đức của cha mẹ. Cách làm rạng rỡ chú trọng ở hạnh khiêm cung, cần phải khắc kỷ giữ lễ, ngăn tà, giữ lòng thành, biết lỗi liền sửa, thấy việc nghĩa phải mạnh mẽ làm, hiểu nhân tỏ quả, tránh giết, phóng sanh, các điều ác đừng làm, làm các điều thiện, sanh tin, phát nguyện, trì danh hiệu Phật. Tự thực hành, dạy người thực hành cùng sanh tịnh độ. Làm được như thế dẫu [người khác] chưa biết đức của phụ mẫu, mà do đức độ của người ấy rạng rỡ, bèn rạng rỡ đức hạnh của cha mẹ tổ tông như thể tu tập từ lâu, vốn có như thế, nên nay được tiếp nối. Trái lại, nếu cha mẹ tổ tông vốn có đức hạnh tốt đẹp, ai nấy đều biết, nhưng do kẻ ấy bất tiếu (2) ắt thiên hạ ngờ rằng cha mẹ, tổ tông nó hoặc giả có làm điều chi ác không ai hay, chứ nếu không sao lại sanh ra con cháu bất tiếu đến vậy? Vì vậy biết lập thân hành đạo, chính là rạng rỡ cái đức của cha mẹ, tổ tông. Làm con người nên làm sao cho mọi người kính nể, khiêm hạ, thật tiễn, mới mong khỏi uổng một kiếp.

* Đời có mẹ hiền, nên mới có hiền nhân. Bậc thánh mẫu khi xưa dạy con tự trong thai, ấy là hun đúc con ngay tự lúc ban đầu mong tập thành tánh. Trong đời dùng tiếng thái thái để gọi nữ nhân, vốn là do ba vị thánh nữ: Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự, đều hay giúp chồng dạy con, khai sáng vương nghiệp tám trăm năm vậy, nên dùng để gọi nữ nhân vậy. Ta thường bảo quyền trị quốc, bình thiên hạ, nữ nhân lo góp phần đã hơn quá nửa. Lại thường bảo: Dạy con gái cái gốc của tề gia, trị quốc, thì chỉ cần dạy làm trọn vẹn đạo làm vợ là giúp chồng dạy con vậy. Chẳng như hạng nữ lưu hiện tại, nhiều phần chẳng giữ bổn phận, muốn cầm quyền, làm đại sự, chẳng biết tự vun bồi từ trong gia đình. Khác nào như gom sắt của vạn nước, chín châu, chẳng đúc hết lỗi lầm to lớn ấy (3). Vì vậy, nhân tâm thế đạo càng suy càng kém, thiên tai, vạ người bời bời nổi lên. Tuy do ác nghiệp của chúng sanh đồng phận cảm vời, thật là do gia đình thiếu giáo dục nên thành nỗi ấy. Vì thế, kẻ có thiên tư bị ảnh hưởng thành cuồng vọng. Kẻ không thiên tư cam bề ngu độn. Như ai nấy đều được hiền mẫu uốn nắn, thời ai ai chẳng thành hiền sĩ. Cùng thì riêng mình thiện, đạt thì kiêm thiện. Sao đến nỗi trên đã cai quản vô đạo, dưới chẳng pháp để giữ. Tệ đoan trăm mối sanh, dân không biết nhờ đâu mà sống được vậy thay!

* Trả lời thư của Lâm Giới Sanh: Thầy Triệt Quyền đến cho biết tướng trạng oán hận của cư sĩ, [cư sĩ] bảo với kẻ tục vô tri rằng: Làm lành gặp nạn, tu hành vô ích v.v.. các thứ tà thuyết. Tôi nghe sự ấy bàng hoàng, sợ bậc thượng trí bởi thế buông bỏ công hạnh, kẻ hèn ngu càng hăng làm ác. Vì vậy chẳng nệ hủ lậu, dùng lời thẳng thưa rằng:

Trong kinh Như Lai nói, báo thông cả ba đời. Người phàm sanh con, lược có bốn nhân. Báo thông tam thế:

- Thứ nhất là hiện báo, tức là hiện tại làm lành, làm dữ, ngay đời này hưởng phước, lãnh họa. Như sĩ tử chăm chỉ học hành, ngay đời này được công danh. Việc này mắt phàm thấy được.

- Thứ hai là sanh báo, tức là đời này làm thiện, làm ác, đời sau hưởng phước, chịu tội. Như tổ phụ trọng tư văn cháu con mới phát đạt. Điều này mắt phàm chẳng thấy nổi. Thiên nhãn họa may mới thấy được. (Đời này, đời sau là ước về người ấy mà nói. Vì là việc cách đời, khó dùng ví dụ giải rõ, tạm dùng tổ phụ, con cháu, là muốn cho người đời dễ hiểu, chớ vì nệ vào văn tự mà hiểu sai ý nghĩa).

- Thứ ba là hậu báo, tức là đời này làm lành, làm dữ, đến đời thứ ba, hoặc bốn, năm, sáu bảy đời hoặc trăm ngàn vạn đời cho đến nhiều kiếp, mới chịu báo lành dữ. Như vương nghiệp nhà Thương, nhà Chu thật bắt đầu khai sáng tự lúc ông Thuấn giúp vua Đại Vũ. Nếu trong ba, bốn đời, thiên nhãn còn có thể thấy được. Nếu đến nhiều kiếp, chỉ có ngũ nhãn viên minh của đức Như Lai thấy nổi. Biết nghĩa lý của ba thứ báo này thì làm thiện giáng điều tốt lành, làm điều bất thiện bị gieo tai ương. Thánh ngôn tự vốn tự chẳng sai lầm. Phú quý, bần tiện, thọ, yểu, cùng, thông, mạng trời chưa từng thiên vị. Cảnh duyên đến như bóng hiện trong gương. Bậc trí chỉ sửa đổi hình dung ngoài gương. Kẻ ngu căm ghét ảnh trong gương hiện. Nghịch đến thuận chịu, mới là vui đạo trời. Chẳng oán, chẳng căm, mới là lập mạng.

Con cái có bốn nhân: Một là báo ân, hai là báo oán, ba là đòi nợ, bốn là trả nợ.

Báo ân là cha mẹ với con trong đời trước có ân. Vì để báo ân, sanh làm con họ, để săn sóc, phụng dưỡng, sống thờ, chết chôn, ắt khiến cha mẹ khi sống vui vẻ, thác lại cúng tế, thậm chí thờ vua giúp dân, danh ghi sử xanh, khiến thiên hạ đời sau kính trọng người ấy mà kính luôn cả cha mẹ, như Tăng Lỗ Công, như Trần Trung Túc, Vương Quy Linh, Sử Đại Thành (4). Con hiếu cháu hiền đời nay đều là như thế cả.

Báo oán là cha mẹ đời trước với con có điều phụ bạc, nên để báo oán, sanh vào làm con. Nhỏ thì ngỗ nghịch mẹ cha, lớn thì làm vạ lây bố mẹ. Lúc sống chẳng phụng dưỡng ngọt bùi, thác mang mối nhục xuống tận cửu tuyền. Lại những trường hợp báo oán sâu nặng, thân tuy ở bực quyền quí, lại chẳng tuân theo lề thói, diệt môn phá tộc, quật mồ dời mả, khiến thiên hạ đời sau thóa mạ kẻ ấy, lại còn nguyền rủa cả cha mẹ, như Vương Mãng, Tào Tháo, Đổng Trác, Tần Cối vậy.

Trả nợ là con trong đời trước lấy của cải mẹ cha, vì để trả nợ, sanh vào làm con. Nếu nợ nhiều thì làm con suốt đời. Nếu nợ ít, thì chỉ sống nửa chừng liền chết, như học sắp thành tài liền mất mạng. Vừa mới được lợi đã vùi thân.

Đòi nợ là cha mẹ trong đời trước mắc nợ của cải của con, nên để đòi nợ sanh vào làm con. Nợ nhỏ thì nhọc nhằn tốn kém đem của ra rước thầy, cưới vợ cho, cùng các thứ dạy răn, muốn con được thành người, mà công sắp thành thì con chợt chết mất. Nợ lớn thì chẳng chỉ có vậy, đến nỗi con phá tan sản nghiệp, nhà tan cửa nát đến chết mới thôi.

Tôi xét kỹ ngờ rằng đứa con này của cư sĩ là do đòi nợ mà sanh làm con. May là mắc nợ ít, nên tuổi trẻ đã mất. Ông hãy nên sám hối nghiệp trước, nỗ lực gắng tu, trời sẽ ban cho đứa con hiếu làm rạng rỡ dòng họ. Huống hồ đức thánh Khổng, tuổi trung niên chôn con, Nhan Uyên đại hiền tuổi trẻ chết yểu. Nguyên Hiến nghèo mạt, Tử Lộ tuẫn nạn, Bá Di, Thúc Tề chết nói nơi Thủ Dương, Bá Ngọc khốn cùng nơi nước Vệ. Há dám nói thánh hiền bởi tu đức mà bị trời hại ư? Sanh tử có mạng, phú quý tại trời ư? Chỉ nên trách cái đức của mình chẳng chơn thành, đừng hỏi họa phước báo trời. Nếu có thể như vậy thì ngũ phước tự nhiên vào cửa, lục cực quyết định tránh xa khỏi nhà mình. Tôi nói chẳng tin, thì kìa như vầng mặt trời tỏ rạng: Phải biết người sống trong cõi đời đủ cả tám khổ. Ví sanh lên trời, khó thoát năm sự suy tổn. Chỉ có Tây phương Cực Lạc thế giới, chẳng có các khổ, chỉ hưởng các vui. Há chẳng phải là trời thấy ông đề xướng tịnh độ, dùng đứa con vô phước vô thọ ấy làm nhát kim đâm ngay đỉnh đầu ông để cảnh tỉnh ông rằng: ba cõi chẳng an, ví như nhà lửa, các khổ đầy dẫy, thật là đáng sợ. Mạng người vô thường, nhanh tựa ánh chớp, chẳng cách nào níu lại được. Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt nước, ảnh. Với những điều này vẫn còn chẳng ngộ, để gắng sức tu tịnh nghiệp, thì khác gì gỗ, đá, vô tình sống trọn cả đời trong trời đất vậy. Là bậc nam tử có huyết tánh, há cam làm khối thịt cử động, thây chết biết đi, mục nát với cỏ cây, vươn tới thánh cảnh. Tự trong phàm phu, gặp việc cảnh tỉnh lớn lao mà chẳng phát phẫn. Nghe đạo của thánh hiền, Phật, tổ mà chẳng chịu tu, thì há có phải là trời phụ người đâu! Mà chính là người phụ trời vậy. Kính mong ông xét soi.

48. Ba điều tối quan trọng lúc lâm chung (Lâm chung tam đại yếu)

Điều bi thảm nhất trong thế gian không chi bằng cái chết. Mà khắp cả người đời, có ai may mắn thoát được. Vì vậy, người hữu tâm muốn lợi mình, lợi người, chẳng thể chẳng sớm lo toan liệu kế. Thật ra, một chữ sanh tử vốn là giả danh. Do kỳ hạn của cái báo cảm vời được từ đời trước đã tận, nên bỏ tấm thân này, lại thọ cái thân khác vậy. Chẳng biết Phật pháp thì thật không pháp để liệu, chỉ mặc cho nghiệp xoay chuyển. Nay đã được nghe pháp môn phổ độ chúng sanh của đức Như Lai, phải nên tín, nguyện niệm Phật, sắp sẵn tư lương vãng sanh, hầu mong thoát được cái huyễn luân hồi sanh tử, chứng sự vui chơn thật Niết Bàn thường trụ. Những người có cha, mẹ, anh, em, và các quyến thuộc mắc trọng bịnh, bịnh tình khó bề thuyên giảm, nên phát lòng hiếu thuận, từ bi, khuyên họ niệm Phật, cầu sanh Tây phương, và trợ niệm cho, hầu mong người bị bệnh do vậy sau khi chết liền sanh tịnh độ. Cái lợi ích như thế, kể sao cho xiết? Nay nêu lên ba điều trọng yếu để làm căn cứ thành tựu sự vãng sanh cho người lâm chung. Lời lẽ tuy thô vụng, ý vốn lấy từ kinh Phật. Nguyện ai thấy nghe, gặp nhân duyên này, đều khắp làm theo. Ba điều trọng yếu là:

Một, khéo chỉ dạy, an ủi, khiến sanh chánh tín.

Hai, cả nhà thay phiên niệm Phật, để giúp tịnh niệm.

Ba là hết thảy phải tránh xao động, khóc lóc kẻo kẻo làm hỏng việc.

Nếu có thể tuân theo ba pháp này mà hành, quyết định tiêu trừ được túc nghiệp, tăng trưởng tịnh nhân, được Phật tiếp dẫn, vãng sanh Tây phương. Một phen được vãng sanh, thì siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, dần dần tấn tu, ắt đạt viên thành Phật quả mới thôi. Lợi ích như vậy, toàn nhờ vào sức trợ niệm của quyến thuộc. Hành được như thế với cha mẹ thời là hiếu chơn thật, với anh, em, chị,em, thật là chơn đễ (5), với con cái, thật là chơn từ. Với bằng hữu, với mọi người, thật là chơn nghĩa, chơn huệ. Dùng đây để vun bồi thêm cái nhân tịnh độ của mình. Kính xin những người cùng tín tưởng, lâu ngày chày tháng, có khó gì mà chẳng tập thành lề thói được. Nay vì mỗi mỗi vị tỏ bày, đừng để lúc lâm chung không biết dựa vào đâu.

Thứ nhất, khéo chỉ bày, an ủi, khiến sanh chánh tín: Thiết tha khuyên người bịnh, buông xuống hết thảy, nhất tâm niệm Phật. Như phải giao phó việc gì, phải mau giao phó. Giao phó xong rồi, chẳng đếm xỉa đến nữa, chỉ nghĩ ta nay theo Phật vãng sanh cõi Phật. Tất cả sự giàu vui, quyến thuộc thế gian, các thứ trần cảnh đều là chướng ngại, đến nỗi gây hại. Vì thế, chẳng nên sanh một tâm niệm quyến luyến. Phải biết một niệm chơn tánh của chính mình vốn chẳng có chết. Cái chết vừa nói đó chỉ là xả thân này để lại thọ cái thân khác thôi. Nếu chẳng niệm Phật thì theo nghiệp lực thiện, ác, lại thọ sanh trong nẻo lành, dữ. Như trong lúc lâm chung, nhất tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật, do tâm niệm Phật chí thành, quyết định cảm Phật phát đại từ bi, đích thân tiếp dẫn cho được vãng sanh. Đừng nghi rằng: mình nghiệp lực phàm phu, sao chỉ do niệm Phật một thời gian ngắn, lại xuất ly nổi sanh tử, vãng sanh Tây phương. Nên biết Phật đại từ bi, tội nhân thập ác, ngũ nghịch rất nặng, lúc lâm chung, tướng địa ngục hiện ra. Nếu có thiện tri thức, dạy cho niệm Phật, hoặc niệm mười tiếng, hoặc chỉ một tiếng, cũng được Phật tiếp dẫn, vãng sanh Tây phương. Hạng người ấy chỉ niệm mấy câu, còn được vãng sanh. Sao còn cho rằng nghiệp lực nặng, niệm Phật ít ỏi, mà sanh nghi ư? Nên biết chúng ta vốn có chơn tánh, với Phật chẳng hai. Chỉ vì hoặc nghiệp sâu nặng, chẳng thọ dụng được! Nay đã quy mạng nơi Phật, như con nương cha, bèn là trở về cái ta vốn có. Há có là sự bên ngoài đâu! Lại Phật xưa đã phát nguyện: Nếu có chúng sanh nghe danh hiệu của ta, chí tâm tin ưa, cho đến mười niệm, nếu chẳng sanh thì chẳng lấy ngôi chánh giác. Vì thế, hết thảy chúng sanh lâm chung phát tâm chí thành, niệm Phật cầu sanh Tây phương, không một ai chẳng được ngài rủ lòng từ tiếp dẫn. Ngàn vạn chẳng thể hoài nghi. Hoài nghi chính là tự mình lầm lạc. Họa ấy chẳng nhỏ. Huống nữa, lìa cõi khổ này, sanh thế giới vui ấy, là sự rất mực khoái ý, nên sanh tâm hoan hỉ, ngàn vạn chẳng được sợ chết. Sợ chết cũng chẳng thể khỏi chết, lại còn chẳng được phần vãng sanh tây phương nữa, vì tâm mình trái với tâm Phật vậy. Phật tuy đủ đại từ bi, cũng vô phương cứu tế người chẳng nương theo lời dạy của Phật. A Di Đà Phật vạn đức hồng danh, như lò luyện lớn lao. Chúng ta nhiều kiếp tội nghiệp, như mảnh tuyết trong không. Nghiệp lực phàm phu do bởi niệm Phật, nghiệp liền tiêu diệt. Như mảnh tuyết đặt ở bên lò lửa lớn, liền tiêu hết chẳng còn gì. Huống nữa, nghiệp lực đã tiêu, bao nhiêu thiện căn tự nhiên tăng trưởng thù thắng. Sao lại còn ngờ chẳng được vãng sanh, Phật chẳng đến tiếp dẫn ư? Chỉ dạy, an ủi ngọn ngành, uyển chuyển như thế, khiến bịnh nhân tự có thể sanh tâm chánh tín. Vì bịnh nhân khai thị như thế. Cái việc chí thành, tận hiếu đáng làm của mình, cũng chỉ cốt ở điều này. Chẳng nên thuận theo thói tục, cầu thần, hỏi thầy. Mạng lớn sắp hết, quỷ thần, thuốc men, làm sao giữ nổi khỏi chết? Đã nhọc lòng vì những sự vô ích như thế, thời với một sự niệm Phật bớt thành khẩn, làm sao cảm thông! Nhiều kẻ lúc cha mẹ lâm chung, chẳng tiếc tiền của, thỉnh vời nhiều thầy thuốc đến khám. Đấy gọi là mại hiếu (cái hiếu do mua được), muốn người đời khen mình đối với cha mẹ có thể tận hiếu. Chẳng hay thiên, địa, quỉ thần, thật soi lòng mình. Vì vậy, với các sự tống táng cha mẹ, quá sức phô trương, chẳng mắc tai trời, ắt bị vạ người. Làm con người nên chú trọng nơi chỗ thần thức người thân đạt đến. Lời xưng tụng của người đời khiến người mắt sáng phải phì cười, huống là dốc lòng mong mỏi, chỉ là thật là cái lỗi bất hiếu to lớn mà thôi!

Thứ hai, cả nhà thay phiên niệm Phật để giúp tịnh niệm. Trước đã giáo hóa bịnh nhân, khiến sanh chánh tín. Nhưng bởi tâm lực người bịnh ấy yếu ớt, vốn lúc khỏe mạnh là người chưa hề niệm Phật, nên chẳng dễ niệm liên tục lâu được. Cho đến giờ đây lấy niệm Phật làm việc chánh thì cũng toàn nhờ vào người khác trợ niệm, mới có thể có sức. Vì vậy, quyến thuộc trong nhà cùng nên phát tâm hiếu thuận, từ bi, vì người ấy trợ niệm Phật hiệu. Nếu bịnh còn chưa đến nỗi đến lúc cùng tận, nên chia ban niệm Phật. Nên chia thành ba ban, mỗi ban hạn định mấy người. Ban đầu tiên niệm Phật ra tiếng, ban thứ hai, thứ ba niệm thầm. Niệm một tiếng đồng hồ, ban thứ hai niệm tiếp. Ban thứ nhất, ban thứ ba niệm thầm. Nếu có việc gì nên trong lo liệu trong lúc niệm thầm. Lúc trực ban, trọn chẳng nên bỏ đi. Ban thứ hai niệm xong, ban thứ ba niệm tiếp. Xong lại trở lại từ đầu. Niệm một tiếng, nghỉ hai tiếng, trọn cả ngày đêm, cũng không mệt nhọc lắm. Phải biết rằng chịu giúp người tịnh niệm vãng sanh, cũng được báo có người trợ niệm. Chớ có nói là vì cha mẹ tận hiếu phải như vậy, với người dưng cũng nên vun bồi ruộng phước của mình, trưởng dưỡng thiện căn của mình, thật là cái đạo tự lợi, chẳng uổng làm người. Thành tựu một người được vãng sanh tịnh độ, chính là thành tựu một chúng sanh làm Phật. Công đức thế ấy há nghĩ lường nổi! Ba ban liên tục, tiếng niệm Phật chẳng ngớt. Nếu sức bịnh nhân niệm nổi thì nương đó niệm nho nhỏ theo. Chẳng niệm nổi thì lắng tai nghe kỹ, tâm không có niệm khác, tự có thể tương ưng với Phật vậy. Tiếng niệm Phật chẳng nên quá to, to thời tổn hơi, khó niệm lâu được. Chẳng thể quá nhỏ, khiến bịnh nhân chẳng nghe được rõ. Chẳng nên quá mau, cũng chẳng nên quá chậm. Quá mau bịnh nhân theo chẳng nổi, mà nghe cũng chẳng rõ. Quá chậm thì hơi chẳng tiếp nổi, cũng khó có ích. Nên chẳng cao, chẳng thấp, chẳng rề rà, chẳng gấp gáp. Từng chữ phân minh, từng câu rành mạch khiến bịnh nhân với từng chữ, từng câu lọt tai thấu dạ, nhờ vậy có sức. Pháp khí dùng cho niệm Phật chỉ nên dùng dẫn khánh (6), còn các thứ khác đều chẳng nên dùng. Tiếng dẫn khánh trong trẻo, khiến tấm lòng người nghe thanh lương. Tiếng mõ trầm đục chẳng thích hợp cho việc trợ niệm khi lâm chung. Lại nên niệm bốn chữ Phật hiệu. Lúc bắt đầu, niệm vài câu sáu chữ, rồi sau đó, niệm bốn chữ A Di Đà Phật, chẳng niệm Nam Mô. Do ít chữ dễ niệm, bịnh nhân hoặc tâm niệm theo, hoặc nhiếp tâm lắng nghe, đều tốn ít tâm lực. Quyến thuộc trong nhà niệm như vậy, ngoài thỉnh bạn tốt cũng niệm như vậy. Dù nhiều người hay ít người, đều phải niệm như thế, chẳng nên niệm một tiếng ra, lại nghỉ một chốc lại niệm, khiến bịnh nhân niệm Phật gián đoạn. Nếu ăn cơm, nên ăn vào lúc thay phiên, đừng để tiếng niệm Phật gián đoạn. Nếu bịnh nhân lúc sắp tắt hơi, cả ba ban cùng niệm cho đến tận sau khi đã tắt hơi, thì lại chia ba ban niệm suốt ba tiếng đồng hồ. Rồi mới nghỉ để lo liệu, sắp đặt mọi việc. Trong lúc niệm Phật, chẳng để cho bè bạn đến trước bịnh nhân, thăm hỏi, vỗ về, khiến sanh mến luyến, mà nên [bảo họ] cùng đại chúng niệm Phật chừng mấy thời. Ấy mới là tấm tình chơn thật, có ích cho bịnh nhân. Còn nếu dùng thói tục thường tình, chính là xô người xuống biển. Tình tuy đáng cảm, nhưng [để xảy ra] sự ấy thật là đau đớn. Toàn là cậy vào người chủ chốt hiểu rõ đạo lý, bảo trước với người đến thăm, để khỏi tổn thương tình cảm, lại tránh di hại cho bịnh nhân: do phân tâm mà chẳng được vãng sanh vậy.

Thứ ba, là kiêng dè xáo động, khóc lóc để tránh làm bịnh nhân mê đắm. Lúc người sắp chết, chính là ranh giới phân biệt giữa thánh phàm, người, quỉ. Ngàn cân đầu sợi tóc. Cần phải hết sức cẩn thận, chỉ nên dùng Phật hiệu khai thị, dẫn dắt thần thức người ấy, chẳng nên tắm rửa, thay áo, hoặc dời chỗ nằm. Người ấy nằm như thế nào, cứ để yên người ấy nằm trong tư thế ấy, chẳng nên có chút dời động. Cũng chẳng nên đối với việc ấy mà sanh bi cảm, hoặc đến nỗi khóc lóc. Do khi ấy, [người chết] thân chẳng tự chủ được, mỗi một lay động là chạm đến cả toàn thân đều bị đau đớn, nhức nhối. Đau đớn thì sân tâm sanh, tâm niệm Phật bị ngưng. Do sân tâm sanh, phần nhiều bị đọa vào độc loại, đáng sợ hãi thay. Nếu thấy buồn đau, khóc lóc, thì tâm mến luyến phát sanh, Phật niệm liền bị ngưng bặt. Do tâm ái nổi lên, đến nỗi đời đời, kiếp kiếp, chẳng được giải thoát. Lúc ấy, để được lợi ích nhất thì không chi bằng nhất tâm niệm Phật. Cái điều tai hại nhất không chi bằng vọng động, khóc than. Nếu như vọng động, khóc than, đến nỗi sanh sân hận cùng tâm mến luyến, thì muốn sanh Tây phương, vạn phần chẳng được một. Lại người sắp chết, hơi nóng rút dần từ dưới lên trên là tướng siêu sanh, còn hơi nóng từ trên xuống dưới là tướng đọa lạc. Vì vậy, có thuyết:

Đảnh thánh, nhãn thiên sanh

Nhân tâm, ngạ quỉ phúc

Súc sanh tất cái ly,

Địa ngục khước phản xuất

Nhưng nếu cả nhà chí thành trợ niệm, ắt tự có thể sanh thẳng về Tây phương, chẳng nên rờ rẫm thăm dò, khiến khi thần thức chưa rời, nhân đấy bị đau đớn, tâm sanh phiền đau, chẳng được vãng sanh. Lỗi họa ấy thật là vô lượng vô biên. Xin các thân hữu, đều phải khẩn thiết niệm Phật, chẳng cần dò xem hơi nóng, sau lạnh ở chỗ nào. Làm con nên lưu tâm điều này mới là thật hiếu. Nếu theo các thói tục thế gian, há chẳng phải là xô người thân xuống bể khổ chẳng xót chăng, chỉ để mong một lũ vô tri vô thức xúm lại khen là có thể tận hiếu ư, thật là khác chi yêu mến la sát nữ. Kinh dạy: La sát nữ ăn người, bảo: Ta yêu ngươi nên ăn thịt ngươi. Kẻ vô tri hành hiếu, khiến cho người thân mất vui được khổ, há chẳng giống hệt cái tỉnh yêu người của la sát nữ hay sao? Tôi nói ra lời này, chẳng phải là không đếm xỉa đến tình người, chỉ là muốn cho ai nấy đều thấy rõ thực tế, đều mong cho người chết vãng sanh, kẻ sống được phước. Chỉ vì do đáp ứng tấm lòng chơn thành của con hiền, cháu thảo thương yêu người thân, chẳng nệ lời lẽ dường như quá khích. Người thương yêu người thân thật sự khá nên lượng thứ cho.

Thuyết: Đảnh thánh, nhãn sanh thiên.. là nói về khi người đã tắt hơi, toàn thân đã lạnh, chỉ còn đảnh đầu nóng thì ắt siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Nhãn sanh thiên là nếu mắt cùng trán còn nóng thì sanh trong thiên đạo. Chỗ ngực còn ấm thì sanh nhân đạo. Riêng bụng còn nóng thì sanh ngạ quỉ. Riêng đầu gối còn nóng thì sanh súc sanh. Riêng bàn chân còn nóng thì sanh địa ngục. Đấy là do người ấy lúc sống, hai nghiệp thiện, ác đã tạo đến giờ đây cảm hiện như thế, chẳng thể dựa vào đâu để làm ra vậy được. Khi ấy bệnh nhân nếu có thể chí thành niệm Phật, lại thêm sức của quyến thuộc, bạn lành trợ niệm quyết định có thể đới nghiệp vãng sanh, siêu phàm nhập thánh vậy. Chẳng cần phải để ý thử sờ xét nghiệm, đến nỗi làm hỏng việc. Mong mỏi lắm thay.

49. Lược giải về tam quy

Một quy y Phật, hai quy y pháp, ba quy y tăng.

Quy là quay về, y là nương nhờ. Như người té xuống biển, chợt có thuyền đi tới, bèn lội đến thuyền. Đấy là nghĩa quay về. Lên thuyền ngồi yên, là nghĩa nương nhờ. Sanh tử là biển, tam bảo là thuyền. Chúng sanh quy y liền lên bờ kia. Đã quy y Phật, thờ Phật làm thầy, từ nay trở đi đến lúc lâm chung, chẳng được quy y thiên ma, ngoại đạo, tà quỉ, tà thần. Đã quy y pháp, dùng pháp làm thầy, từ nay trở đi, đến lúc lâm chung, chẳng được quy y kinh sách ngoại đạo. Đã quy y tăng, lấy tăng làm thầy, từ nay trở đi, đến lúc lâm chubg, chẳng được quy y ngoại đạo đồ chúng. Lại nữa, quy y Phật Pháp Tăng, có lý có sự. Sự chính là quy y mười phương tam thế hết thảy Phật, Pháp, Tăng vô tận tam bảo. Lý chính là quy y Phật của tự tánh, quy y pháp của tự tánh, quy y tăng của tự tánh. Phật là giác, chính là trí của tự tánh. Pháp là quy tắc, chính là lý của tự tánh. Tăng là hòa hợp, chính là lý và trí khế hợp, nhất như bất nhị. Lại nữa, Phật là bát nhã đức. Pháp là pháp thân đức. Tăng là giải thoát đức. Ba đức viên dung, trọn khắp pháp giới, chính là tự tánh vô tận tam bảo. Khắp nguyện pháp giới hữu tình cùng quy tự tánh vô tận tam bảo, cùng chứng tự tánh Di Đà tam đức bí tạng. Mà muốn chứng được tự tánh Di Đà tam đức bí tạng, nếu chẳng nhờ đến sự tướng, sanh lòng tin, phát nguyện, niệm thánh hiệu Di Đà, cầu sanh Tây phương, chỉ sợ trải qua trần sa kiếp này đến trần sa kiếp khác, vẫn ở trong Sa Bà làm chúng sanh. Với người chấp lý bỏ sự, thiết tha mong xét kỹ lẽ này.

50. Lược giải về năm giới

Một, chẳng sát sanh. Hai, chẳng trộm cắp. Ba, chẳng tà dâm. Bốn, chẳng nói dối. Năm, chẳng uống rượu.

Chẳng sát sanh là tham sống sợ chết, loài vật cũng giống như ta, mà ta đã ham sống, loài vật há lại muốn chết hay sao? Lấy đó mà suy, có nên giết hại sanh mạng chăng? Hết thảy chúng sanh luân hồi sáu nẻo, tùy nghiệp lành, dữ, thăng lên, giáng xuống. Ta cùng với chúng trong nhiều kiếp xoay vần làm cha mẹ, con cái. Nên nghĩ cách cứu vớt, lẽ nào nỡ giết? Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh. Trong đời vị lai, đều sẽ thành Phật. Ta nếu đọa lạc, còn mong được cứu giúp. Lại đã tạo nghiệp sát, ắt đọa ác đạo. Đền trả nợ cũ, giết hại lẫn nhau, chẳng biết bao giờ mới thôi! Lấy đó mà suy, há dám giết hại ư? Nguyên do của sát sanh là vì ăn thịt. Nếu biết nhân duyên như trên vừa nói, tự chẳng dám ăn thịt nữa. Lại kẻ ngu cho thịt là ngon, chẳng biết thịt là do tinh, huyết tạo thành, trong đầy phẩn, tiểu, ngoài lẫn chất dơ, tanh tưởi, hôi bẩn, ngon ở chỗ nào? Thường nên quán bất tịnh, ăn vào ắt sẽ ọe ra. Lại chúng sanh bao gồm con người, cầm thú, giòi tửa, cá, tôm, muỗi mòng, rận, rệp. Hễ có sanh mạng đều là chúng sanh. Chẳng thể bảo hễ con vật lớn thì chẳng nên giết, con vật nhỏ thì giết được. Kinh Phật rộng dạy về giới sát, phóng sanh, công đức lợi ích. Kẻ tục không đọc được những kinh ấy, thì nên xem bài Vạn Thiện Tiên Tư của An Sĩ tiên sinh, ắt biết được đại khái vậy.

Chẳng trộm cắp thời ý nghĩa dễ thấy. Chẳng cho chẳng lấy, đấy là biết liêm sỉ vậy. Chẳng được phạm giới này. Nếu bàn tỉ mỉ, chẳng phải bậc đại thánh, đại hiền, khó lòng khỏi phạm. Dùng việc công để giúp tư, tổn người lợi mình, dùng thế lấy của, dùng kế đoạt vật, ganh tị sự phú quý của người khác, mong cho người nghèo hèn, phô trương làm lành để lấy tiếng, gặp các việc lành tâm chẳng hiểu chơn chánh. Như khi học đạo nghĩa, chẳng chọn thầy nghiêm, khiến người khác và đệ tử lầm lạc; thí cho thuốc men chẳng xét thật, giả khiến tổn tánh mạng của người; Phàm thấy ác nạn, dùng dằng chẳng gấp cứu. Hời hợt, thờ ơ, hoặc là lầm lẫn, chỉ làm phận sự tắc trách, lãng phí tiền tài người khác. Trong lòng chẳng coi là khẩn yếu. Những điều như thế, đều gọi là trộm cắp vậy.

Chẳng tà dâm là nam nữ trong đời, ở tại gia sanh con đẻ cái, trên là vì phong hóa, dưới là để [có người] thờ phụng tổ tiên. Vợ chồng hành dâm, không phạm vào điều cấm. Nhưng phải nên kính nhau như khách, ngõ hầu tiếp nối giòng giống, chẳng nên vì khoái lạc chạy theo lòng dục đến nỗi mất mạng. Tuy là vợ mình, tham lạc quá cũng là phạm giới. Nhưng tội ấy vẫn còn nhẹ, nếu chẳng phải với vợ mình mà chung chạ bậy bạ, thì gọi là tà dâm. Tội ấy rất nặng. Hành tà dâm là đem cái thân người này làm hạnh súc sanh. Báo hết mạng dứt, trước sẽ đọa địa ngục, ngạ quỉ, sau sanh trong súc sanh đạo ngàn vạn ức kiếp, chẳng thể xuất ly. Hết thảy chúng sanh từ dâm dục sanh. Cho nên giới này khó giữ dễ phạm. Ngay cả bậc đạt hiền, có lúc còn vi phạm, huống là kẻ ngu. Nếu lập chí tu trì, trước phải phân biệt lợi hại và phương pháp đối trị: coi như rắn độc, như gặp oán tặc, sợ hãi e dè, dục tâm tự tắt. Phương pháp đối trị được rộng nêu trong kinh Phật. Tục nhân vô duyên xem đến, nên xem bài Dục Hải Hồi Cuồng cuủa An Sĩ tiên sinh, ắt biết được đại khái.

Chẳng nói dối là lời nói đáng tin, chẳng dối trá thốt ra. Nếu thấy nói chẳng thấy, chẳng thấy bảo thấy, đem dối bảo thật, có nói là không v.v.. Những điều như vậy, tâm và miệng chẳng tương ứng, đều là muốn dối gạt người. Lại nếu có kẻ chưa đoạn được hoặc, bảo là đã đoạn hoặc. Tự chưa đắc đạo bảo là đắc đạo thì gọi là đại vọng ngữ. Tội ấy rất nặng. Phạm đại vọng ngữ thì sau khi mạng chung, quyết định đọa thẳng vào A Tị địa ngục, trọn chẳng có kỳ ra. Nay người tu hành mà chẳng biết giáo lý Phật pháp nhan nhãn, nên phải thống thiết răn đe, quan trọng lắm lắm vậy. Bốn điều trên đây, chẳng luận xuất gia hay tại gia, thọ giới hay chẳng thọ giới, phạm vào đều có tội lỗi, do thể tánh [của những sự ấy] là ác vậy. Người chẳng thọ giới tội lỗi một tầng. Người đã thọ giới tội đến gấp đôi. Ngoài tội làm điều ác còn thêm tội phạm giới. Nếu trì mà chẳng phạm, công đức vô lượng vô biên, cần nên gắng gỏi vậy.

Chẳng uống rượu là vì rượu hay làm mê loạn lòng người, hoại giống trí huệ. Uống vào khiến người điên đảo, hôn cuồng, làm điều xằng bậy, nên Phật chế giới cấm hẳn. Phàm người tu hành đều chẳng được uống. Lại với các thứ hành, hẹ, tỏi, năm thứ cây hăng nồng mùi mẽ hôi hám, thể chẳng thanh khiết. Ăn chín thì phát dâm, ăn sống thì thêm nóng giận. Phàm kẻ tu hành đều chẳng được ăn. Mà một giới này nếu người chưa thọ thì ăn dùng đều chẳng mắc tội. Thọ giới rồi lại ăn thì mắc một tầng lỗi, tức là tội phạm Phật giới. Phật đã cấm ngăn, ta lại phạm nên có tội. Lại như kinh dạy: Mỗi tháng tám ngày: mười bốn, mười lăm, hăm ba, hăm chín, ba mươi. Phàm sáu ngày này, tứ thiên vương tuần hành Nam châu, quán sát nhân gian thiện, ác. Lại trong ba tháng giêng, tháng năm, tháng chín, Đế Thích dùng gương báu lớn chiếu thẳng xiuống Nam châu, dò xét tội phước. Đều phải nên trai giới niệm Phật, sám hối tu tỉnh. Đó gọi là ba tháng trai, sáu ngày trai. Lại mỗi tháng thêm ngày mùng một, ngày mười tám, ngày hăm tám, gọi là thập trai. Kẻ sơ phát tâm đều nên lưu ý.

51. Lược giải về thập thiện

Một chẳng sát sanh, hai chẳng trộm cắp, ba chẳng tà dâm, bốn chẳng nói dối, năm chẳng nói thêu dệt, sáu chẳng nói đâm thọc, bảy chẳng ác khẩu, tám chẳng keo tham, chín chẳng nóng giận. Mười chẳng tà kiến.

Trong những giới này, ba giới đầu tiên là than nghiệp. Bốn giới giữa: Khẩu nghiệp. Ba giới sau cùng gọi là ý nghiệp. Nghiệp là sự đã có tướng hiển hiện. Nếu giữ chẳng phạm gọi là thập thiện. Nếu phạm chẳng giữ, gọi là thập ác. Thập ác chia làm thượng, trung, hạ, cảm thân trong ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Thập thiện chia làm thượng, trung, hạ, làm thân trong ba đường lành: trời, người, a tu la. Nhân lành cảm quả lành, nhân ác cảm quả ác, quyết định không nghi, tơ tóc chẳng lầm. Giết, trộm, dâm, nói dối đã giảng trong phần nói về ngũ giới.

Nói thêu dệt là nói lời vô ích, phù phiếm, bóng bảy, đẹp đẽ, bàn soạn chuyện dâm dục khiến người nghĩ bậy.. Nói đôi chiều là đối với người kia nói chuyện người này, hướng người này nói chuyện kẻ kia, khêu gợi thị, phi, đòn xóc hai đầu. Ác khẩu là ngôn ngữ thô ác, như đao, như kiếm, khiến người bị vùi lấp, xấu xa, chẳng biết kiêng dè. Lại mạo phạm đến cha mẹ người, gọi là đại ác khẩu. Tương lai sẽ bị quả báo súc sanh. Đã thọ Phật giới, cẩn thận chớ phạm.

Keo tham là của cải của mình chẳng chịu thí cho người thì gọi là keo. Với của người, chỉ muốn đoạt về mình thì gọi là tham. Nóng giận là giận dữ, thấy người đạt điều gì, lo buồn phẫn nộ. Thấy người mất mát, khoan khoái sung sướng. Cùng là phô phang thế lực, khinh rẻ người, vật. Tà kiến cũng gọi là si. Chẳng tin làm lành được phước, làm ác mắc tội. Nói là không nhân quả, chẳng có đời sau. Khinh miệt hiền thánh, hủy kinh giáo của Phật.

Thập thiện này bao gồm hết thảy, nếu có thể tuân hành, không ác chi chẳng dứt. Không lành chi chẳng tu. Sợ kẻ sơ tâm chẳng thể hiểu rõ, nay lược nêu hai việc. Một là nên hiếu thuận phụ mẫu, chẳng trái, chẳng nghịch, thuận chiều uyển chuyển, khuyên cho nhập đạo, bỏ mặn ăn chay, trì giới, niệm Phật, cầu sanh tây phương, liễu thoát sanh tử. Cha mẹ nếu tin không điều lành nào lớn hơn. Như quyết chẳng y theo, cũng chớ buộc làm, vì mất đạo hiếu. Chỉ đối trước Phật, thay cha mẹ sám hối tội lỗi, mới là điều nên làm. Với anh em thời hết dạ. Với vợ chồng thời tận kính. Với con cái thời cực lực giáo huấn khiến chúng lành tốt. Cẩn thận chớ tùy lòng kiêu hãnh, đến nỗi thành sai trái. Với xóm giềng làng xóm, nên hòa mục nhún nhường. Vì họ nói nhân quả thiện ác, khiến họ đổi ác, hướng lành. Với bằng hữu thời tận tín, với tôi tớ thì từ ái. Với việc công tận tâm hết sức cũng như việc tư. Hễ thấy người quen biết: như gặp cha nói về lòng từ. Gặp con nói về hiếu. Còn về làm ăn, vốn vì cầu lợi, chẳng nên tăng giá, gạt gẫm người khác. Nếu phong hóa này được thạnh hành ở một làng, một ấp thời tiêu được cái họa loạn chưa nảy mầm, đến nỗi hình phạt thành vô dụng, có thể nói là ngoài đồng tận trung, trong nhà tận chánh vậy.

52. Lời khuyên giới sát chơn thành

Có các thiện tín đề xướng phóng sanh, gìn tiếc thân mạng, vãn hồi sát kiếp. Kẻ chẳng chấp nhận, đến cật vấn rằng: Với những kẻ góa bụa, cô độc, bần cùng, hoạn nạn, đâu đâu cũng có, sao chẳng chu cấp, lại cứ miệt mài cứu giúp dị loại chẳng tương quan? Với hoãn, gấp, nặng, nhẹ như vậy há chẳng lầm lạc sao? Đáp: Ông chưa hiểu duyên do đức Như Lai dạy người giới sát, phóng sanh. Vì người, vật tuy khác, Phật tánh vốn đồng. Chúng do ác nghiệp luân hồi trong dị loại. Ta do nghiệp lành may được thân người. Nếu chẳng thêm xót thương, mặc tình ăn nuốt, đến một ngày ta hết phước, tội chúng đã hết, khó tránh khỏi phải đền trả từ đầu. Thỏa mãn miệng, bụng, phải biết đại kiếp đao binh đều do sát nghiệp đời trước cảm thành. Nếu không nghiệp giết, ví dù thân gặp giặc cướp, chúng sẽ khởi tâm lành, chẳng bị tru lục. Huống lại nữa với các thứ tai vạ ngang trái: ôn dịch, nước, lửa, nếu giới sát, phóng sanh thì ít bị mắc phải. Vì thế biết bảo vệ sanh mạng, chính là tự bảo hộ mình. Tránh giết thì thoát khỏi trời giết, quỉ thần giết, đạo tặc giết, các thứ đến báo oán giết. Với những kẻ góa bụa, cô độc, bần cùng, hoạn nạn cũng đều tùy phận, tùy sức để chu cấp cho. Há có phải đâu người giới sát, phóng sanh, tuyệt chẳng làm công đức ấy? Mà những người góa bụa ấy, tuy thật rất đáng thương, nhưng còn chưa đến tử địa. Với loài vật chẳng chuộc mạng, đứng nhìn chúng lên chảo, lên thớt để thỏa mãn cái miệng, cái bụng ư?

Lại nói: Loài vật vô tận, thả được bao nhiêu? Đáp: Nên biết một việc phóng sanh, thật vì phát khởi tâm lành tối thắng giữ gìn sanh mạng loài vật của mọi người. Cốt là ở ý niệm phóng sanh trong tâm giữ vững chẳng nỡ ăn nuốt. Đã chẳng ăn nuốt, thì chẳng bắt bớ, mặc cho hết thảy loài vật trên cạn, dưới nước tự tại bay chạy, bơi lội trong chỗ sống của chúng, thành ra chẳng phóng sanh mà khắp phóng sanh, há chẳng phải là cả thiên hạ thành một cảnh hay không? Ví dù chẳng thể khiến ai nấy cũng đều được như vậy, thì chỉ một người chẳng đành ăn thịt, vô lượng sanh mạng trên cạn, dưới nước đã khỏi bị giết chóc, huống là chẳng chỉ có một người ư. Lại vì hết thảy mọi người trong hiện tại, vị lai, dứt sạch cái nhân góa bụa, cô độc, bần cùng, hoạn nạn, được cái duyên trường thọ vô bịnh, phú quí, an vui, cha con đoàn viên, vợ chồng giai lão, chánh là đã sắp sẵn cái hạnh cứu giúp trọn khắp, khiến vị lai đời đời, kiếp kiếp trọn chẳng bị các khổ: góa bụa, cô độc. Hưởng cái vui sống lâu, giàu có.. há chẳng phải là toàn nước được hưởng phúc chăng? Có nên bỏ lỡ không? Ông hãy nghĩ kỹ! Giới sát phóng sanh rốt ráo là triệt để vì loài người, nào phải chỉ lợi lạc cho loài vật, mà cho là điên đảo nơi sự hoãn, gấp, nặng, nhẹ vậy!

Đức lớn của trời đất gọi là sanh. Đạo lớn của Như Lai là từ. Người, vật tuy khác, tâm tánh giống nhau. Với cả phàm trần ba thừa, sáu nẻo, Như Lai đều xem con một. Vì cớ sao? Do đều đủ Phật tánh, đều có thể thành Phật. Hãy để ba cõi lại, lục phàm là thiên, nhân, a tu la, súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục. Tuy là cao thấp khác biệt rất xa, khổ vui sai khác, nhưng đều chưa đoạn hoặc nghiệp, chưa ra khỏi sanh tử. Phước trời nếu hết liền bị đọa xuống. Tội trong địa ngục nếu tiêu, bèn lại sanh lên, như thể bánh xe lăn, lần lượt lên cao, xuống thấp. Ta nay may được thân người, lẽ ra phải nên bày phương cách chu đáo gìn tiếc mạng loài vật, hợp với đức hiếu sanh của trời đất, thể hiện cái nhân trắc ẩn trong tâm ta. Bởi vì các loài vật cùng ta cùng sanh trong khoảng trời đất, cùng hưởng sự dưỡng dục của trời đất. Cùng biết tham  sống, cùng biết sợ chết. Kẻ nhân đối với xương khô, còn vun lấy đem chôn. Với cỏ cây, còn để mọc dài chẳng chặt. Huống là để ngon miệng, vui bụng mà với các loài vật trên cạn, dưới nước bắt chịu cái khổ dao cắt, nấu, chiên! Nên biết các loài vật ấy từ vô thỉ đến nay, cũng từng ở trên địa vị tôn quý, oai quyền hiển hách, chẳng biết muợn oai quyền để vun bồi cái đức, trái lại, cậy oai quyền tạo nghiệp, khiến ác nghiệp chất chồng, đọa trong dị loại: miệng chẳng nói được, tâm không trí lự, thân không nghề khéo, mắc phải nạn ấy, tuy thịt mềm bị cưỡng ăn, tuy vậy oán hận kết lại khiến cho đời đời kiếp kiếp luôn nghĩ báo oán. Người nếu chẳng nghĩ đến cái khổ các loài vật bị giết, há chẳng sợ cái oán nghiệp thâm kết, thường bị chúng giết hại lại sao? Lại chẳng sợ do tàn hại loài vật, trời sẽ đoạt phước thọ của mình ư? Người như mong muốn quyến thuộc quây quần, thọ mạng dài lâu, thân tâm an lạc, các duyên như ý, phải nên phát lòng đại bi, hành hạnh phóng sanh, khiến cho trời đất, quỉ thần đều xót thương tấm lòng thành thương yêu loài vật của ta, thì những điều ta mong muốn sẽ đạt được.

Nếu cậy ta có tiền tài, ta có trí lực, bày đủ các cách bắt lấy loài vật, dùng để thỏa miệng, dạ của mình, chẳng đếm xỉa nỗi thống khổ của chúng, há có còn đáng coi là người cùng đứng chung với trời, đất chăng? Ta cùng bọn chúng cùng trong sanh tử, từ vô thỉ đến nay, chúng chắc chắn đã từng là chha mẹ, anh em, thê thiếp, con cái, ta cũng đều là cha mẹ, anh em, thê thiếp, con cái của chúng. Bọn chúng cũng từng ở trong loài người, hoặc trong dị loại, đều bị ta giết, ta cũng đều hoặc ở trong loài người hoặc trong dị loại, đều bị chúng giết. Làm kẻ thân, người oán, sanh ra nhau hay giết nhau. Lặng im mà nghĩ, thẹn chẳng muốn sanh. Chóng chóng cải đổi, còn e quá trễ, huống là cam đành giữ thói cũ, vẫn chấp mê tình, với loài khác do trời sanh, mong [giết] cung cấp cho người ăn uống ư!

53. Lược giải về tứ đế pháp luân

Trước tiên, nói về tướng chuyển, tức là: đây là khổ, tánh bức bách. Đây là tập, tánh chiêu cảm. Đây là diệt tánh có thể chứng. Đây là đạo, tánh có thể tu.

Hai là khuyên tu chuyển, tức là: đây là khổ, ông nên biết. Đây là tập, ông nên đoạn, đây là diệt, ông nên chứng. Đây là đạo, ông nên tu.

Ba là chứng chuyển, tức là: Đây là khổ, ta đã biêt. Đây là tập, ta đã đoạn. Đây là diệt, ta đã chứng, đây là đạo, ta đã tu.

Khuyên người niệm Phật cầu sanh Tây phương, cốt ở giản minh, trực tiếp, chẳng cần phải dẫn rộng pháp môn tứ đế. Nhưng muốn chỉ bày về sự nương tự lực, Phật lực, hai thứ liễu sanh tử khó, dễ. Riêng dựa vào tứ đế để làm luận cứ so sánh. Đã hiểu nghĩa này, có đành chịu bỏ Phật lực để chuyên cậy vào tự lực hay chăng? Nay lược giải nghĩa này, trong phần so sánh, liền sẽ nói thêm khi giải thích ý nghĩa. Tam chuyển tứ đế pháp luân đây là lúc Phật mới thành chánh giác, nơi Lộc Uyển, vì các ông Kiều Trần Như là những người theo mình đi tu, như Át Bệ, Bạt Đề, Thập Lực Ca Diếp, Câu Lợi, nói pháp môn này. Bọn họ nghe xong đều đắc quả A La Hán. Tăng bảo khi ấy hiện có ở thế gian. Tứ đế là khổ, tập, diệt, đạo bốn pháp, thảy đều chơn thật chẳng dối, trọn chẳng có nghĩa lầm lạc. Chuyển nghĩa là xoay vần truyền thọ. Luân là ví dụ. Như bánh xe trong đời hay nghiến nát, vận tải các vật. Phật dùng pháp này nói với chúng sanh. Chúng sanh theo đó tu tập, liền có thể phá trừ phiền não hoặc nghiệp, ấy là nghĩa nghiến nát. Hoặc nghiệp đã phá, liền có thể tự chứng lý chơn thật bất sanh bất diệt Niết Bàn, là nghĩa chuyên chở. Do những nghĩa ấy, gọi là pháp luân.

Trước hết, giảng về tướng chuyển như thế nào để biết lợi hại, hầu quyết định lấy, bỏ. Câu đây là khổ, tướng bức bách: chữ đây, chính là lời chỉ cho cái khổ quả đang chịu. Tức là cái chánh báo sắc thân này, cùng với y báo quốc độ. Nay nếu nói theo phương diện sắc thân, thời có sắc thân này, tức là có sanh, lão, bịnh, tử, khổ vì thương yêu mà phải xa lìa, khổ vì oán ghét phải gặp gỡ, khổ vì cầu mà chẳng được, khổ vì năm ấm lừng lẫy, tám điều khổ. Tám điều khổ này, phú quí, bần tiện, thảy đều cùng có. Hà huống là mỗi người do nghiệp cảm lấy cái khổ đặc biệt. Do các khổ ấy, bức bách phiền loạn nơi thân và tâm khiến người ta cả một đời chẳng được tự tại.

Câu ‘Đây là tập, tánh chiêu cảm’: Chữ đây chỉ cho hai thứ: kiến hoặc, tư hoặc. Hai thứ hoặc này tức là căn bổn sanh tử, danh tướng rất nhiều, chẳng thể nói trọn. Nói vắn tắt, hễ thấy cảnh khởi lên tham sân si, cùng chẳng thấy cảnh tự khởi tham, sân, si. Do phiền não tuy nhiều, mà gồm thâu cả chẳng sót trong ba thứ tham, sân, si. Tập có nghĩa là tụ tập. Do có hai thứ hoặc ấy, nên có thể tụ tập hết thảy phiền não, chiêu cảm hết thảy khổ báo. Do khởi các tâm thiện, ác, liền tạo các nghiệp thiện, ác... Có nghiệp thời ắt phải chịu báo, nên mãi luân hồi trong đường thiện, ác nơi tam đồ, lục đạo, muôn kiếp chẳng thoát ra được.

Câu Đây là diệt, tánh chứng được: Chữ đây chỉ cho diệt cái khổ và tập ở trên, được lý bất sanh bất diệt. Do tu giới, định, huệ đạo, nên dứt được cái nhân sanh tử: tham, sân, si. Do đấy, lại chẳng chịu quả khổ luân hồi, sanh tử, chứng được Niết Bàn bất sanh, bất diệt. Nên gọi là diệt. Diệt là không. Đã chẳng có sanh, cũng chẳng có diệt, bất sanh bất diệt, cưỡng gọi là diệt. Ví như mây, mù, che lấp hư không, một cơn gió mạnh nổi lên, mây mù tiêu trừ, hư không sẵn có nhân đấy hiển hiện. Lúc mây mù che ngăn, hư không vốn chẳng từng diệt. Lúc mây mù tan, hư không vốn chưa từng sanh. Bổn thể của hư không luôn thường hằng bất biến. Tướng sáng, tối, thông, tắc thật là cách biệt nghìn trùng. Rõ điều này, mà chẳng phát tâm tu đạo để chứng diệt thì thật chẳng đáng vậy. Lý ấy ai cũng có đủ, nếu chịu tu đạo, chẳng có ai chẳng được. Nên nói là tánh có thể chứng.

Câu Đây là đạo, tánh có thể tu: Chữ đây chỉ giới định huệ. Do Phật pháp tuy là vô lượng vô biên, gói trọn trong ba thứ giới định huệ chẳng sót. Đạo có nghĩa là thông được. Tức là dựa vào giới, định, huệ này tu, ắt có thể đoạn cái nhân sanh tử: tham, sân, si, chẳng thọ cái quả sanh tử luân hồi trong tam đồ, lục đạo, đích thân được Niết Bàn bất sanh, bất diệt, tự tâm vốn đủ. Mà đạo giới, định, huệ này tự tâm vốn đủ, chẳng tu thì tuyệt nhiên chẳng phải là ta có. Tu thì vốn chẳng phải tự ngoài đến. Vì thế nói là tánh có thể tu.

Bốn thứ pháp này đều trước hết nêu cái quả, sau mới bày cái nhân. Khổ là quả của tập. Tập là nhân của khổ. Diệt là quả của đạo. Đạo là nhân của diệt. Nói như vậy là khiến biết khổ để đoạn tập, hâm mộ diệt mà tu đạo vậy.

Thứ hai, khuyên tu chuyển là đã biết tánh tướng, lợi hại, nếu chẳng chơn thật tu trì, thì chẳng thể được lợi ích ấy, xa khỏi họa hại đó, nên khuyên rằng: Đây là khổ ông nên biết, đây là tập, ông nên đoạn, đây là diệt, ông nên chứng, đây là đạo, ông nên tu. Do muốn rời khổ quả, trước phải đoạn tập nhân. Muốn chứng diệt lý, trước phải tu đạo phẩm.

Ba là tác chứng chuyển. Trước khi chư Phật xuất thế không có nghĩa này. Nay tuy nói ra sợ hoài nghi, vì thế nêu ra điều mình đã trải qua để làm chứng cứ, bèn nói là: đây là khổ, ta đã biết. Đây là tập, ta đã dứt, đây là diệt, ta đã chứng. Đây là đạo, ta đã tu. Muốn biết con đường dưới núi, cần phải hỏi người qua lại. Phật là người qua lại, lời lẽ quyết định đáng nương theo. Vì thế năm người nghe đều chứng quả A La Hán. Năm người này đều do túc căn đã chín, lại thêm oai thần của Phật gia bị, nên được như thế. Nếu căn cứ theo số đông tùy ý đắc chứng mà luận, thì khó, dễ sai khác rất lớn. Sơ quả đã đoạn kiến, hoặc, còn phải bảy lần sanh lên trời, bảy lần trở lại nhân gian, mới chứng tứ quả. Nhị quả một lần sanh thiên, một lần sanh trong nhân gian mới chứng tứ quả. Tam quả sanh đủ trong ngũ bất hoàn thiên, mới chứng tứ quả, hoặc sanh trong hết các trời tứ không, năm tháng ấy chẳng thể tính đếm dễ dàng. Sơ quả, nhị quả, tam quả còn phải lâu xa như thế còn chưa đoạn được kiến hoặc, khó khăn bội phần ngần ấy, huống là quả A La Hán vẫn còn thuộc tiểu thừa. Đạt đến địa vị bồ tát còn xa xôi nữa. Nếu có thể hồi tiểu hướng đại, mới vào được bồ tát vị, tấn tu dần dần, cho đến thành Phật. Đây là ước về nương vào tự lực giới, định, huệ đạo để liễu sanh tử, thật khó vậy. Thật khó như lên trời. Vì thế, Như Lai riêng khai một pháp môn tín, nguyện, niệm Phật cầu sanh tịnh độ để hàng bồ tát chứng đẳng giác và phàm phu ác nghiệp cùng trong hiện đời vãng sanh Tây phương. Xét theo giáo lý phổ thông mà luận, phàm phu đủ cả hoặc nghiệp, tuyệt chẳng có phần hết sanh tử. Chỉ có pháp môn tịnh độ, nếu đủ lòng tin chơn thật, nguyện thiết tha, thành tâm trì Phật hiệu, liền có thể nương nhờ Phật từ lực, mang nghiệp vãng sanh. Một phen được vãng sanh thời hoặc nghiệp còn chẳng có. Do tây phương cảnh duyên thù thắng như lò luyện lớn, một nhúm tuyết vào trong liền tiêu mất, như kiếp hỏa đốt sạch thế giới, tìm tro còn chẳng được. Phật lực, pháp lực, chúng sanh tâm lực, cả ba đều chẳng thể nghĩ bàn. Nên có pháp môn đặc biệt này ban cho lợi ích đặc biệt. Phải biết pháp môn tịnh độ bèn là pháp môn thành thỉ thành chung vô thượng của mười phương tam thế hết thảy chư Phật: trên thành Phật đạo, dưới độ chúng sanh. Đời lắm kẻ quen thói chẳng xét kỹ, cho là đây chỉ là pháp môn đặt ra cho bọn ngu phu, ngu phụ, mình là bậc thượng sĩ tự tại chẳng chịu thuận tu tập, nhường kẻ ngu phu, ngu phụ nhờ vào Phật lực vãng sanh Tây phương, liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Còn bậc trí tự sức, trí lực chẳng thể đối phó nổi hoặc nghiệp. Hoặc nghiệp chửa đoạn, chẳng thể chẳng hướng vào thọ sanh trong tam đồ, lục đạo. Ngay trong tam đồ, lục đạo, kẻ hạ hạ phẩm vãng sanh về tịnh độ đem so với Đế Thích đã hơn cả một trời một vực, huống là bậc thượng thượng phẩm! Ngu phụ, ngu phụ đáng xem thường, với ngu phu, ngu phụ niệm Phật cầu sanh Tây phương có nên xem thường không? Xem thường họ tức là xem thường pháp phổ độ trên là thánh, dưới là phàm của mười phương chư Phật! Tự lầm, làm người lầm lạc rất lớn, chẳng đáng sợ thay, chẳng đáng hãi thay!

54. Lược giải về tứ liệu giản (tức Tịnh Độ Quyết Nghi luận)

Thuốc không quý tiện, trị lành bịnh là tốt. Pháp không hơn, kém, khế hợp căn cơ là diệu. Thuở xưa, căn tánh con người thù thắng, tri thức như rừng, tu một pháp liền đều có thể chứng đạo. Người đời nay, căn tánh kém cỏi, tri thức hiếm hoi, nếu bỏ tịnh độ, thì chẳng nhờ đâu được giải thoát. Tôi tự thẹn nhiều đời, nhiều kiếp, ít gieo căn lành, phước mỏng, huệ cạn, chướng nặng, nghiệp sâu, lúc trẻ học hỏi, chẳng gặp thiện hữu, chưa nghe đạo truyền tân (7) của thánh hiền, lậm cái độc của Hàn, Âu (7) phế Phật. Học vấn chưa thành, nghiệp lực đã hiện ra trước. Từ đấy bệnh nặng mấy năm, chẳng làm gì được. Nghĩ kỹ thiên địa quỷ thần chiếu soi như thế, cổ kim thánh hiền đông nhiều đến thế, huống là Phật tự chẳng quyền lực mà khiến người thuận theo, ắt nhờ vua thánh, tôi hiền hộ trì, mới có thể lưu thông thiên hạ vậy. Nếu quả thật pháp như lời họ Hàn, họ Âu, trái nghịch thánh đạo, tổn hại Trung quốc, há chẳng chỉ cổ kim vua thánh, tôi hiền chẳng dung thứ cho tồn tại nơi đời, mà thiên, địa, quỉ thần cũng tru lục chẳng còn sót từ lâu rồi vậy. Nào đợi đến Âu, Hàn dùng lời hư vọng để bác bỏ nữa. Đạo quân tử nói trong sách Trung Dung, kẻ ngu phu, ngu phụ còn biết được, hay được. Còn đến cái cùng cực, ngay cả thánh nhân cũng có điều chẳng hay, chẳng biết. Âu, Hàn tuy hiền, nhưng còn kém xa thánh nhân rất nhiều, huống là biết nổi điều thánh nhân chẳng biết chẳng hay. Phật pháp là pháp chẳng phải do phàm tình, trí thế gian suy lường nổi. Bèn nhanh chóng sửa đổi tâm trước, xuất gia làm tăng, tự luợng sức mình, nếu chẳng nương sức thệ nguyện của đức Như Lai, quyết khó nổi ngay đời này thoát khỏi sanh tử. Tự ấy, chỉ niệm Phật, chỉ cầu tịnh độ. Từ nhiều năm đến nay, lạm chiếm tòa giảng, nhiều phen dạy thiền, chẳng qua muốn phát minh đệ nhất nghĩa đế tịnh độ, để làm tư lương thượng phẩm vãng sanh mà thôi. Hận rằng sức lực yếu ớt, hạnh khó dũng mãnh, nhưng tín, nguyện kiên cố, chẳng phải chỉ những các sư thiền giảng trong đời chẳng lay chuyển nổi tôi đôi chút, dẫu chư Phật hiện thân dạy tu pháp khác, cũng chẳng chịu bỏ pháp này lấy pháp khác, trái nghịch cái tâm ban đầu. Vì túc nghiệp làm chướng, trọn chưa được nhất tâm bất loạn để đích thân chứng được niệm Phật tam muội, thẹn thùng vô kể.

Một ngày nọ có một thượng tọa, học Thiền tông đã lâu, kiêm thông giáo lý, mắt xem bốn biển rỗng không, thề chứng nhất thừa, noi gương Thiện Tài tham học các tri thức, đến Loa Sơn gõ cửa thất tôi. Khi ấy, tôi vừa xem tập Di Đà Yếu Giải, thấy văn sâu lý thẳm, chẳng tiện cho kẻ sơ cơ, mông muội, muốn sưu tập giáo lý của tông Thiên Thai, viết lời giải thích, ngõ hầu bậc sơ học dễ bề tiến tu, chẳng dám bắt chước cổ đức hoằng xiển đạo mầu, chỉ toan tạo thắng duyên cho hậu học. Mừng vị thượng tọa ấy đến, liền tặng một cuốn Yếu Giải, rồi thuật ý muốn viết lời giải thích. Thượng tọa nhân đấy bảo tôi: Một cuốn Yếu Giải tôi trước đã từng xem, thấy trong ấy viết rằng: Tạng sâu Hoa Nghiêm, cốt tủy kín nhiệm của Pháp Hoa, tâm yếu của hết thảy chư Phật, kim chỉ nam cho vạn hạnh của bồ tát, đều chẳng rời khỏi kinh này. Như vậy là chẳng phải là đề cao, mà là chèn ép tông giáo, quá khen tịnh độ, báng chánh pháp luận, nghi lầm chúng sanh, chẳng hiểu đại sư Ngẫu Ích đã có cái học thức thiên cổ hy hữu, sao chẳng trực chỉ nhân tâm, hoằng dương chỉ quán. Trái lại, chấp vào thứ kiến giải ấy để làm thứ bùa hộ thân của kẻ ngu phu, ngu phụ, mong hàng tăng tục trong đời, giữ một pháp, buông vạn hạnh, lấy vũng nước bỏ cả biển rộng, cùng nhập nẻo mê, vĩnh viễn quay lưng đường chánh, đoạn diệt giống Phật, tội ngập cả trời. Muốn báo ân Phật nên trước hủy diệt sạch sách này, sao còn kham viết lời giải thích để giúp lưu thông ư! Tâm giận ngùn ngụt, như đối diện cừu thù.

Tôi đợi cho ông ta bình tĩnh lại, thong thả bảo rằng: Ông coi lời giải thích này của ngài Ngẫu Ích là tội lỗi quá nặng, là chỉ biết cái ngọn, nhánh, chẳng biết đến cội gốc, như con chó khờ chạy theo hòn đất, chẳng như ngỗng chúa chọn sữa. Phải biết cái lỗi ấy chẳng do cuốn Yếu Giải này của ngài Ngẫu Ích, mà là do Phật Thích Ca, Di Đà và mười phương chư Phật, và ba kinh Tịnh Độ, và Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, các kinh Đại Thừa, ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, Trí Giả, Thiện Đạo, Thanh Lương, Vĩnh Minh v.v.. các vị đại bồ tát, tổ sư. Ông nếu có thể làm đại pháp vương, trừng trị tội ấy, thời lời của ông sẽ được cả đời phụng hành. Còn không là kẻ dân ngu nơi rừng núi vọng xưng hoàng đế, tự chế pháp luật, bội phản luật vua, chẳng ra gì lại bị diệt môn tru tộc vậy. Ông nói như thế, báng Phật, báng pháp, báng tăng, ngay đời này sẽ đọa A Tì địa ngục, vĩnh kiếp thọ khổ, trọn không kỳ thoát. Cậy chút phước trong quá khứ, tạo khổ báo muôn đời. Tam thế chư Phật được nói kẻ đáng thương xót chính là ông vậy.

Ông ta giật mình, nói: Lời thầy bảo tội nơi đức Thích Ca, Di Đà v.v.. Sao lại trái nghịch lý thường như thế. Xin thầy giải thích cho. Nếu lý ấy thật thù thắng, dám đâu chẳng tuân theo?

Tôi bảo: Như Lai vì một đại sự nhân duyên nên xuất hiện trong đời. Nói một đại sự nhân duyên là muốn cho chúng sanh khai, thị, ngộ, nhập tri kiến của Phật, thẳng đến khi thành Phật mà thôi. Há có gì khác đâu! Khốn nỗi chúng sanh căn có lớn nhỏ, mê có cạn sâu, chẳng thể thẳng bày bổn hoài của Phật, nhân đấy tùy cơ đặt ra giáo pháp, đối bịnh phát thuốc, vì thật bày ra quyền biến. Với pháp nhất thừa, nói ra các thuyết. Hoặc có kẻ thiện căn thành thục, khiến họ nhanh chóng lên được bờ kia. Hoặc kẻ ác nghiệp sâu dày, khiến họ dần dần thoát khỏi trần lao, rủ lòng tiếp dẫn. Khéo dỗ dần dần, dẫu đem trời, đất, mẹ cha, chẳng ví nổi chút phần [từ ân của Phật]. Lại do hết thảy pháp môn đều nhờ tự lực, dẫu như kẻ túc căn thâm hậu, triệt ngộ tự tâm với hai thứ: kiến hoặc, tư hoặc, vẫn còn sót chưa hết, nên sanh tử luân hồi, y như cũ chưa ra khỏi. Huống là đã thọ thai ấm, xúc cảnh sanh chấp trước, từ giác đến giác thì ít, từ mê vào mê lại nhiều. Thượng căn còn như vậy, kẻ trung hạ còn biết nói sao! Đoạn kiến hoặc như cắt dòng sông bốn mươi dặm, huống hồ tư hoặc! Liễu sanh thoát tử há có dễ đâu! Do vậy chẳng thể khắp độ ba căn, tuyên dương bổn hoài của Phật. Chỉ có một pháp niệm Phật cầu sanh tịnh độ, chuyên cậy hoằng thệ nguyện lực của Phật Di Đà, chẳng luận thiện căn thành thục hay chẳng thành thục, ác nghiệp là nặng hay nhẹ, chỉ chịu sanh tín, phát nguyện, trì danh hiệu Phật, lúc lâm chung, quyết định được Phật Di Đà thùy từ tiếp dẫn, vãng sanh tịnh độ. Người thiện căn thuần thục đốn viên Phật quả. Kẻ ác nghiệp nặng nề, cũng dự vào dòng thánh. Chính là đạo cốt yếu của tam thế chư Phật độ sanh, là pháp mầu nhiệm thượng thánh, hạ phàm cùng tu. Do vậy, các kinh đại thừa đều khơi bày điều quan yếu này. Lịch đại tổ sư không vị nào chẳng tuân hành. Ông tự phụ thiền giáo, bảo xằng rằng hoằng dương tịnh độ là báng chánh pháp luân, đoạn diệt giống Phật, rõ ràng ông bị ma dựa vào thân, táng tâm bịnh cuồng, nhận mê làm giác, chỉ chánh bảo tà, là chủng tử địa ngục vậy.

Phàm đức Thích Ca, Di Đà trong kiếp xưa phát đại thệ nguyện độ thoát chúng sanh. Một vị thì hiện nơi uế độ, lấy uế, lấy khổ, triết phục và thúc đẩy chúng sanh tiến tu. Một vị an cư tịnh độ, lấy tịnh, lấy lạc nhiếp thọ để đào luyện. Ông chỉ biết ngu phu, ngu phụ có thể niệm Phật nên đến nỗi xem thường tịnh độ, sao chẳng xét trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài sau khi đã chứng ngộ gần bằng chư Phật, Phổ Hiền bồ tát bèn dạy phát mười đại nguyện vương, hồi hướng vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, ngõ hầu viên thành Phật quả. Nhân đấy, khuyên khắp Hoa Tạng hải chúng hay sao? Phàm Hoa Tạng hải chúng chẳng có một ai là phàm phu, nhị thừa, mà pháp thân đại sĩ ở địa vị bốn mươi mốt cùng phá vô minh, cùng chứng pháp tánh, đều có thể nương bổn nguyện luân trong thế giới không Phật, hiện thân làm Phật. Lại trong biển Hoa Tạng, tịnh độ vô lượng, mà đều hồi hướng vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, thì biết là vãng sanh Cực Lạc chính là huyền môn thoát khổ, đường tắt để thành Phật. Vì vậy, tự cổ chí kim, trong tất cả tùng lâm của thiền hay giáo, không đâu là chẳng sớm chiều trì danh hiệu Phật, cầu sanh Tây phương. Ông đã tham bái khắp các tùng lâm, hằng ngày ắt cũng tu tập, sao trở lại sanh hủy báng đến thế! Sách Nho nói tu mà chẳng xem xét, dùng hằng ngày mà không biết, không phải chỉ cho hạng người như ông hay sao? Vả Hoa Nghiêm là vua của các kinh, vua trong tam tạng, chẳng tin Hoa Nghiêm, thì là nhất xiển đề. Ví chẳng trong lúc sống đọa A Tì, báo hết quyết định vào vô gián. Tôi muốn lìa khổ nên cầu sanh tịnh độ, ông muốn được khổ nên hủy báng Hoa Nghiêm. Ông cứ giữ cái chí của ông, tôi hành cái đạo của tôi. Tướng quân chẳng xuống ngựa, ai nấy tự ruổi theo đường mình. Đạo đã khác, chẳng thể bàn luận. Ông đi đi, tôi chẳng muốn trò chuyện với ông nữa!

Ông ta đáp: Đạo quý ở chỗ hoằng thông. Nghi ngờ nên cần phải đoạn dứt, thầy cớ sao cự tuyệt đến thế? Thường nghe Tì Lô Giá Na như lai, ở khắp hết thảy chốn, chỗ đức Phật ở gọi là Thường Tịch Quang, chỉ cần chứng pháp thân, thời đương xứ chính là tịch quang tịnh độ. Sao phải dùng tâm sanh diệt bỏ đông, lấy tây, mới coi là được vậy?

Tôi đáp: Nói sao dễ dàng quá, Tịch Quang tịnh độ tuy chính là đương xứ. Nhưng nếu chẳng phải đoạn trí đến rốt ráo, viên chứng pháp thân Tì Lô, chẳng thể triệt để đích thân thọ dụng. Các địa vị: trụ, hạnh, hồi hướng, Đẳng Giác, bốn mươi mốt địa vị trong Viên Giáo vẫn là phần chứng. Ông nếu chứng nổi Tì Lô pháp thân thì chẳng hại gì nói đương xứ chính là Tịch Quang. Nếu chưa được thế, thì nói ăn cùng đếm của chẳng thể thoát chết vì đói lạnh nổi?

Ông ta hỏi: Duy tâm tịnh độ, tự tánh Di Đà, trong tông môn thường bàn, chẳng lẽ sai lầm sao?

Tôi nói: Lời nói đó của nhà thiền chuyên chỉ cho lý tánh, chẳng bàn đến tu sự. Vì sao vậy? Muốn cho người ta trước biết rằng chẳng vượt nhân quả, tu chứng cái lý phàm thánh, chúng sanh, Phật. Sau đấy y theo lý đó, khởi tu nhân, chứng quả, siêu phàm nhập thánh, tức là sự: chúng sanh mà thành Phật đạo. Ông sao lẫn lộn sự, lý, tri kiến điên đảo đến thế! Lại ông bảo bỏ đông lấy tây là sanh diệt, chẳng biết chấp đông bỏ tây lại là đoạn diệt. Phàm chưa chứng diệu giác, ai thoát khỏi thủ, xả? Ba tăng kỳ tu hành, trăm kiếp tu nhân, thượng cầu, hạ hóa, đoạn hoặc chứng chơn, có việc gì chẳng phải là thủ xả? Nên biết Như Lai muốn cho hết thảy chúng sanh mau chứng pháp thân và Tịch Quang, cho nên đặc biệt khuyên trì Phật danh hiệu, cầu sanh tây phương vậy!

Hỏi: Sách Hoa Nghiêm Hợp Luận của Táo Bá Lý trưởng giả cho rằng tây phương tịnh độ bèn là nhất phận thủ tướng phàm phu, chưa tin pháp không thật lý. Do chuyên ức niệm, tâm được tịnh một phần, được sanh tịnh độ. Đó là quyền chẳng phải thật. Cớ sao Hoa Tạng hải chúng cùng nguyện vãng sanh? Táo Bá ngay trong đời chứng thánh, thần thông trí huệ chẳng thể nghĩ bàn, quyết là bồ tát trong hội Hoa Nghiêm thị hiện, lời ngài nói quyết chẳng sai lầm?

Đáp: Ngài Táo Bá tuy là bồ tát thị hiện, nhưng khi ấy kinh chưa truyền đến [Trung Hoa] trọn vẹn, ngài chẳng dự đoán được, nên nói lời ấy. Xét ra ngài Táo Bá tạo luận vào năm Khai Nguyên đời vua Đường Huyền Tông. Sau khi viết xong luận, liền nhập diệt, phải hơn năm mươi năm sau, đến năm Trinh Nguyên thứ mười một đời vua Đức Tông, vua nước Ô Trà ở Thiên Trúc mới dâng bộ Hoa Nguyên Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm bốn mươi cuốn bằng phạn văn. Đến năm Trinh Nguyên thứ mười bốn, mới dịch xong để lưu thông. Ba mươi chín quyển trước chính là phẩm Nhập Pháp Giới tám mươi cuốn, mà văn nghĩa có phần tường tận hơn. Cuốn thứ tám mươi, Thiện Tài nương oai thần lực của ngài Phổ Hiền, sở chứng ngang với Phổ Hiền, ngài Phổ Hiền bèn đọc cho bài kệ, khen ngợi công đức thắng diệu của Như Lai. Tuy kinh văn đến đây đã tận, nhưng chưa kết lại nên pháp hội chưa kết thúc, nên có phẩm Hạnh Nguyện. Cuốn thứ bốn mươi, ngài Phổ Hiền đem mười đại nguyện vương, khuyến tấn Thiện Tài, và Hoa Tạng hải chúng khiến họ hồi hướng vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới. Nói xong, Như Lai khen ngợi, đại chúng phụng hành. Kinh văn mới hoàn bị. Nên cổ đức đem riêng quyển rốt sau của tám mươi quyển để lưu thông, muốn kẻ hậu học đều như được thọ trì toàn bộ kinh vậy. Cổ đức cho rằng một pháp niệm Phật cầu sanh tịnh độ: chỉ Phật với Phật mới biết trọn vẹn, đăng địa bồ tát còn chẳng biết nổi ít phần, chính là ý này. Hết thảy bậc thượng căn lợi khí, tịnh độ tổng nhiếp chẳng sót vậy. Kinh Đại Tập dạy: ‘Đời mạt pháp ức ức kẻ tu hành, hiếm một ai đắc đạo. Chỉ nương vào niệm Phật, được khỏi sanh tử’. Thời hết thảy nhân thiên lục đạo, cụ phược  phàm phu, tịnh độ cũng tổng nhiếp chẳng sót. Ông tin ngài Táo Bá, mà chẳng tin phẩm Hạnh Nguyện và kinh Đại Tập, là tuân theo cáo thị oai quyền một thuở của quan huyện, trái nghịch sắc chỉ của hoàng đế muôn đời chẳng đổi. Sao chẳng biết tôn, ti, khinh, trọng đến nỗi ấy!

Hỏi: Đã là hải chúng thị hiện, sao lại phải đợi có kinh mới biết?

Đáp: Hoằng dương Phật pháp thật chẳng dễ dàng. Cần có chứng cứ, mới có thể gây lòng tin. Một bộ kinh Hoa Nghiêm siêu việt các kinh, đâu được chẳng căn cứ vào đâu mà lập thuyết được.

Hỏi: Kinh Niết Bàn chưa đến Trung Hoa, sao ngài Đạo Sanh đề xướng trước là nhất xiển đề đều có Phật tánh. Há bảo được là ngài Táo Bá chẳng bằng ngài Đạo Sanh ư?

Đáp: Xiển đề nguyên là chúng sanh, hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, sao xiển đề lại riêng chẳng có? Bậc có trí thức đều dự đoán được. Vãng sanh viên mãn Phật quả, các kinh tuyệt chưa tuyên nói, ai dám tự ý xướng xuất nên cái nghĩa đó? Hai là sự, lý tuyệt đối chẳng mâu thuẫn nhau, chẳng thể dẫn đấy làm chứng. Đề cập đến chỗ chứng của hai vị, chẳng phải chỗ hiểu biết của bọn phàm phu ta biết nổi, chẳng dám hý luận! Phải biết bồ tát hoằng pháp, hoặc thuận, hoặc nghịch, các thứ phương tiện chẳng thể nghĩ bàn. Biết đâu ngài Táo Bá thị hiện không biết để đôn đốc sự tin tưởng của người đời sau.

Hỏi: Các sư Thiền tông nhiều vị chê bỏ tịnh độ, đó là lẽ gì?

Đáp: Các sư thiền tông chỉ truyền Phật tâm, tất cả ngôn thuyết đều quy hướng về đấy. Ông tham thiền nhiều năm, còn chẳng biết lẽ này, thời cái hiểu của ông đều là ác tri kiến phá hoại thiền tông vậy.

Hỏi: Còn đang là phàm phu ngập đất, dám đâu lung lăng, thật lời chư tổ, quyết có thể lấy làm bằng chứng. Lục tổ nói: Người đông phương tạo tội, niệm Phật cầu sanh tây phương. Người tây phương tạo tội, niệm Phật cầu sanh cõi nào? Ngài Triệu Châu nói: Lão tăng niệm Phật một tiếng, súc miệng ba ngày. Các sư Thiền tông phần nhiều có những câu nói thế ấy, có nghĩa là chi?

Đáp: Lục tổ trực chỉ hướng thượng, khiến người biết lấy tự tâm, ông lại chẻ văn giải nghĩa, biện luận pháp môn tu trì, là coi cái yên của người cưỡi lừa là cái cằm của người cưỡi, lầm lẫn đến thế! Ông phải biết là người ở tây phương kiến hoặc, tư hoặc sạch hết, tấn phá trần sa và vô minh. Chỉ có tấn tu, tuyệt không có việc tạo tội. Nói kẻ ấy cầu sanh cõi nào là nếu ở nơi ấy, chưa đoạn kiến, tư, nương Phật từ lực: Kẻ đới nghiệp vãng sanh thì sanh trong phàm thánh đồng cư tịnh độ. Một phen sanh cõi kia, thời hai hoặc: kiến, tư, triệt để tiêu diệt, Ví như quăng miếng tuyết vào lò lửa, chưa đến nơi đã biến mất. Gặp gỡ người đức hạnh, niệm thô lậu tiêu hết. Nếu như kiến, tư sạch hết, thời sanh trong Phương Tiện Hữu Dư tịnh độ, phá một phần vô minh thì sanh Thật Báo Vô Chướng Ngại tịnh độ. Vô minh hết sạch, phước huệ viên mãn, sẽ sanh Thường Tịch Quang tịnh độ. Tại cõi này hiện chứng như thế, tại cõi kia tấn tu cũng thế. Ông sao quá lo họ không chốn sanh về mà chướng mình, chướng người, chẳng chịu cầu sanh? Nghe nói ăn bị mắc nghẹn bèn bỏ cả ăn đến nỗi chết mất, là kẻ si trong thiên hạ, ông có nên như thế không? Ông chỉ biết một câu của ngài Triệu Châu: Một chữ Phật, ta chẳng thích nghe, mà chẳng nêu luôn câu kế tiếp. Tăng hỏi: Hòa thượng có vì người không? Triệu Châu nói: Phật, phật! Chỉ muốn căn cứ vào câu ‘Niệm Phật một tiếng, súc miệng ba ngày’ chẳng dựa theo câu: Hoà thượng nhận của cúng dường của đại vương như thế, dùng gì để báo đáp? Triệu Châu nói: Niệm Phật. Lại chẳng y theo câu: Tăng hỏi Mười phương chư Phật, lại có thầy chăng? Hỏi: Có. Hỏi: Như vậy, thầy của chư Phật ra sao? Triệu Châu đáp: A Di Đà Phật, A Di Đà Phật. Ông bảo các sư Thiền tông, phần nhiều nói như thế, chẳng biết lời đáp tương ứng căn cơ, gọi là cơ phong, gọi là chuyển ngữ. Hỏi ở nơi đáp, đáp ở nơi hỏi. Chẳng biết phản chiếu hồi quang, suy xét tự tâm, một bề chỉ ăn bã hèm, chạy theo đất cục, bao giờ thấy tánh được! Tôi xuất gia hơn ba mươi năm, luôn nghe chư tăng nhắc: một câu niệm Phật súc miệng ba ngày, còn câu lấy Phật, Phật độ người, dùng niệm Phật báo ân, A Di Đà Phật là thầy chư Phật, tuyệt chưa từng nghe một kẻ nhắc đến một lần. Vả những câu trên đều từ một miệng thốt ra, đã cho câu trước là thật đáng tin, thì câu sau cũng là thật đáng tin, sao chỉ với lời tổn thì chấp nhận, lời ích lợi lại bỏ. Một thuận, một chống, tự mâu thuẫn nhau. Phàm lời nói của ngài Triệu Châu đều quy về bổn phận, câu ‘Phật chẳng thích nghe’ cùng ‘Niệm Phật báo ân’ đều là chuyển ngữ. Nếu có thể ngay đó biết được tự tâm mới biết đạo của ngài Triệu Châu vượt khỏi thường tình, nghĩa ngoài ngôn ngữ. Nên siêng năng niệm Phật trọn ngày còn chẳng đủ vậy. Ví không được đích thân gặp ngài Triệu Châu, sao chẳng lấy niệm Phật làm sự tu trì, há nên chấp lấy câu bác Phật làm căn cứ, thì ngay trong đời này liền khỏi luân hồi, tương lai quyết định thành Phật. Nếu y theo lời bác Phật, thì là báng Phật, báng pháp, báng tăng, hiện đời tội nghiệp chất như núi,  phước huệ băng tiêu, mạng chung vĩnh viễn đọa trong A Tì, chịu khổ nhiều kiếp. Lẽ lợi hại, được mất ấy, thật là một trời, một vực. Người đời nay toàn là phước mỏng, huệ cạn, nghiệp nặng, chướng sâu, với điều được lợi ích, đều khủng khỉnh nghe, với sự bị tổn toàn thân rạp lạy. Lời chư tổ đáp theo căn cơ, thảy đều như thế, chẳng phiền phải giải thích cặn kẽ. Ông bảo là lời chơn thành của tổ, quyết có thể làm bằng chứng, sao chẳng theo lời ngài Bách Trượng: Tu hành thì niệm Phật là ổn đáng! Lại chẳng tuân ngài Bách Trượng cầu thọ cho vị tăng mắc bệnh, quy củ tống tiễn, thiêu hóa vị tăng đã mất, đều là hồi hướng vãng sanh tịnh độ ư? Lại bảo Bách Trượng chỉ khiến kẻ chết vãng sanh, chẳng khiến kẻ sống cầu sanh ư! Sao chẳng theo tổ thứ mười bốn ở trời Tây là ngài Long Thọ bồ tát, Như Lai dự ký vãng sanh, Long cung vọt lên kinh Hoa Nghiêm, rộng tạo các luận, để riêng khen ngợi tây phương như luận Tì Bà Sa khen ngợi là đạo dễ tu chóng đến đó ư! Lại chẳng tuân theo tổ thứ mười hai: Mã Minh bồ tát, trong phần cuối của luận Khởi Tín, nêu phương tiện tối thắng khiến người niệm Phật cầu sanh Tây phương, thường hầu Di Đà, trọn chẳng thối chuyển? Lại chẳng nương theo nhị tổ A Nan, sơ tổ Ca Diếp, kết tập tam tạng và các kinh tịnh độ sao? Nếu tịnh độ chẳng đáng là pháp, có hại cho đời, các ngài há chẳng biện tốt xấu, lưu cho hậu thế tạo tội hay sao? Lại các kinh đại thừa đều khen tịnh độ, chỉ kinh tiểu thừa, thời không có lấy một chữ nhắc đến. Há bảo các kinh đại thừa chẳng đáng là pháp sao? Lại lúc đức Phật nói kinh Di Đà, sáu phương hằng sa số chư Phật đều hiện tướng lưỡi rộng dài khuyên tin kinh này. Dám bảo là mười phương chư Phật cũng khiến người mắc tội sao? Như bảo Lục Tổ, Triệu Châu.. chẳng thể không tin, thời với Long Thọ, Mã Minh, A Nan, Ca Diếp, Thích Ca, Di Đà, sáu phương chư Phật, các kinh đại thừa, lại chẳng thể không tin hay sao? Nếu bảo chư Phật, chư tổ, các kinh đều chẳng đủ tin, sao lại tin lời Lục Tổ, Triệu Châu.. Thấy gần mà chẳng thấy xa, biết nhỏ chẳng hay lớn, như kẻ nhà quê chỉ nể thế lực ông huyện, chẳng biết oai đức hoàng đế. Trẻ nhỏ thấy tiền đồng bèn chộp lấy, gặp ma ni bảo châu bèn chẳng đoái hoài. Ông lại có biết bài tứ liệu giản của ngài Vĩnh Minh chỉ bày lẽ có không, lợi hại, được mất của thiền và tịnh chăng? Ngài Vĩnh Minh là hóa thân của Phật Di Đà, há cam để người mắc tội báng chánh pháp luân, lầm ngờ chúng sanh, đoạn diệt Phật chủng hay sao?

Ông ta đáp: Bài liệu giản của ngài Vĩnh Minh nói quá chi ly, chẳng đủ để làm pháp, làm sao tin được! Ông ấy nói: có thiền, có tịnh độ, ví như cọp mọc sừng, hiện đời làm thầy người ta, đời sau làm Phật, tổ. Nếu như lời ông ta nói, thời các thiền giả hiện tại, phần đông đều khán câu Người Niệm Phật Là Ai? Lại có vị trụ niệm Phật đường, niệm Phật bao năm, họ có đều hiện đời là thầy của người ta, kiếp sau liền thành Phật, Tổ đâu? Lại nói: Không thiền có tịnh độ, muôn người tu muôn người đỗ, nếu gặp Phật Di Đà, lo gì chẳng khai ngộ? Nay kẻ ngu phu, ngu phụ, chuyên niệm tên Phật, đâu đâu cũng có. Chưa thấy mấy kẻ khi lâm chung hiện các tướng lành, được Phật tiếp dẫn, vãng sanh Tây phương. Nên biết liệu giản của ngài Vĩnh Minh là pháp chẳng đầy đủ!

Tôi nói: Ông sao hấp tấp nuốt trọng quả táo, chẳng nếm mùi vị của nó như thế. Liệu giản của tổ Vĩnh Minh chính là giềng mối của đại tạng, khuôn thước tu trì, trước phải nhận thức đích xác gì là thiền, thế nào là tịnh? Gì là hữu, vô như thế nào? Rồi mới theo văn phân tích, thì biết mỗi chữ đều như trời tạo, đất dựng, không chữ nào chẳng xác đáng, không chữ nào thay đổi được. Tôi trong vòng mươi năm lại đây, thấy lời lẽ các sư giảng thiền đều hệt lời của ông, chẳng có chút khác. Kiến thức như thế, thì thiền cùng tịnh độ mỗi ngày một suy tàn.

Hỏi: Sao gọi là thiền, tịnh, cùng là hữu, vô, cúi xin dạy rõ cho!

Đáp: Thiền chính là chơn như Phật tánh vốn có của chúng ta. Trong nhà thiền nói cái diện mục vốn có lúc cha mẹ chưa sanh ra, mà nhà thiền chẳng nói rõ ra, chính là để người tham cứu mà tự chứng, nên nói như vậy. Thật chính là linh tri ly niệm, không năng, không sở, tức tịnh, tức chiếu vậy, thuần chơn tâm thể vậy.

Tịnh độ là tín nguyện, trì danh, cầu sanh tây phương, chẳng phải riêng chỉ duy tâm tịnh độ, tự tánh Di Đà. Có thiền là tham cứu tận sức, niệm tịch, tình vong, thấy suốt cái bổn lai diện mục trước khi cha mẹ sanh ra, minh tâm kiến tánh. Có tịnh độ là chơn thật phát bồ đề tâm, sanh tín, phát nguyện, trì danh hiệu Phật, cầu sanh Tây phương. Thiền và tịnh độ chỉ là ước theo giáo, ước theo lý. Còn có thiền và có tịnh độ là ước theo căn cơ, ước về tu. Về giáo lý thời hằng nhiên như thế. Phật chẳng thể tăng, phàm chẳng thể giảm. Xét về căn cơ, tu hành thì phải nương giáo khởi hạnh. Hành tột đến lý chứng, sao cho thật có các điều ấy nơi mình vậy. Hai là văn tuy tương tự, thật ra rất khác nhau, phải xét kỹ càng, chớ có lẫn lộn. Còn như tham thiền chưa ngộ, hoặc ngộ chưa triệt để, đều chẳng được gọi là Có Thiền. Nếu như niệm Phật chỉ chấp duy tâm, không có tín, nguyện, hoặc có tín nguyện nhưng chẳng chơn thành, thiết tha, lơ lơ là là, làm cho lấy có. Hoặc hành tuy tinh tấn, tâm luyến trần cảnh, hoặc cầu đời sau sanh nhà phú quý, hưởng vui ngũ dục, hoặc cầu sanh lên trời, hưởng phước lạc trời, hoặc cầu đời sau xuất gia làm tăng, nghe một, ngộ cả ngàn, được đại tổng trì, hoằng dương pháp đạo, khắp lợi chúng sanh đều chẳng được gọi là Có Tịnh.

Hỏi: Xuất gia làm tăng, hoằng pháp lợi sanh lại có lỗi chi mà cũng loại trừ?

Đáp: Nếu đã đoạn kiến tư hoặc, đã liễu sanh tử, đại thừa nguyện luân, hiện sanh trong đời trược, thượng hoằng hạ hóa độ thoát chúng sanh thì được. Còn nếu tuy có trí nguyện, nhưng chưa đoạn kiến, tư, dẫu cho lúc ban đầu thọ sanh chẳng mê, cũng lại khó giữ [không mê] trọn đời, nhiều đời. Tuy có thể hoằng pháp, nhưng chưa chứng vô sanh, tình chủng vẫn còn, gặp cảnh đối duyên, khó khỏi bị mê hoặc. Còn nếu một phen mê theo cảnh, mà có thể mau giác ngộ thì vạn người chẳng được một, hai kẻ. Từ mê vào mê, chẳng thể tự độ, trọn kiếp trầm luân, thật là vô số kẻ. Như Lai do vì nghĩa này, dạy người vãng sanh tịnh độ. gặp Phật, nghe pháp, chứng vô sanh nhẫn. Sau đó, nương theo Phật từ lực, cùng bổn nguyện trở vào Sa Bà, độ thoát chúng sanh, nên có tiến chẳng thoái, có được không mất vậy. Chưa đoạn kiến tư, trụ trong cõi này hoằng pháp, tông khác còn cho, chứ Tịnh tông dứt khoát ngăn cấm. Đời lắm kẻ cho rằng tham thiền là Có Thiền, niệm Phật là có tịnh độ, thì chẳng phải chỉ không hiểu thiền, tịnh, mà cũng chẳng hiểu văn nghĩa, cô phụ một tấm lòng đại từ bi của ngài Vĩnh Minh cổ Phật, cắt đứt con đường tắt thoát khổ cho hành nhân đời sau. Tự lầm, lầm người, há chẳng gây hại rất mực hay sao? Chính là nhận lầm hướng la bàn, sai suyển mảy may, cách biệt một trời một vực vậy.

Ông ta nói: Thiền, tịnh có không đã tạm biết chỉ thú, toàn văn sâu nhiệm của bốn bài kệ, xin giảng dạy rành mạch cho.

Tôi nói: Có thiền, có tịnh tịnh độ. Như cọp mọc thêm sừng. Hiện tại làm thầy người, đời sau làm Phật tử nghĩa là: người ấy triệt ngộ Thiền tông, minh tâm kiến tánh, lại còn thâm nhập kinh tạng, hiểu trọn vẹn các pháp môn quyền, thật của Như Lai, mà trong các pháp, lại chỉ chọn lấy một pháp: tín, nguyện niệm Phật để tự lợi, lợi người cùng hành chánh hạnh. Bậc thượng phẩm thượng sanh trong Quán kinh đọc tụng đại thừa, hiểu đệ nhất nghĩa chính là hạng người này vậy. Người ấy có đại trí huệ, có đại biện tài, tà ma, ngoại đạo nghe tên vỡ mật. Như cọp đeo thêm sừng oai mãnh không chi sánh bằng. Với kẻ đến học, tùy cơ thuyết pháp. Nên dùng thiền, tịnh song tu tiếp dẫn, thì dùng thiền tịnh song tu tiếp độ. Nên chỉ dùng chuyên tu tịnh độ để tiếp dận thì dùng chuyên tu tịnh độ tiếp độ. Chẳng luận thượng, trung, hạ căn, không ai chẳng được nhuận trạch, há chẳng phải là đạo sư của trời, người hay sao? Đến lúc lâm chung, được Phật tiếp dẫn, vãng sanh thượng phẩm, trong khoảng khảy ngón tay, hoa nở gặp Phật, chứng vô sanh nhẫn, thấp nhất cũng chứng bậc sơ trụ trong Viên giáo. Cũng có người đốn siêu các địa vị, đạt đến Đẳng Giác. Bậc sơ trụ trong Viên giáo có thể hiện thân trong trăm ngàn cõi làm Phật, huống là các địa vị kế tiếp đó, càng lần lượt thù thắng hơn, nhất là địa vị Đẳng Giác thứ bốn mươi mốt! Vì vậy nói: Đời sau làm Phật Tổ.

Không thiền có tịnh độ. Vạn người tu, vạn đỗ. Nếu gặp Phật Di Đà, lo gì chẳng khai ngộ nghĩa là người ấy tuy chưa minh tâm, kiến tánh. Nhưng đã quyết chí cầu sanh Tây phương. Do đức Phật trong kiếp xưa phát đại thệ nguyện nhiếp thọ chúng sanh, như mẹ nhớ con, chúng sanh nếu thật có thể như con nhớ mẹ, chí thành niệm Phật, thì cảm ứng đạo giao, liền được nhiếp thọ. Ra sức tu định huệ nên được vãng sanh. Ngũ nghịch, thập ác, lâm chung khổ bức bách, phát hổ thẹn lớn, xưng niệm Phật danh, hoặc đến mười tiếng, hoặc chỉ một tiếng, đều trong lúc lâm chung được Phật hóa thân tiếp dẫn vãng sanh. Há chẳng phải là vạn người tu, vạn đỗ hay sao? Mà những người này tuy niệm Phật chẳng lâu, nhưng do mãnh liệt, nên có thể đạt được lợi ích lớn lao ấy, chẳng nên đem sánh nhiều, ít với kẻ tu lơ lơ là là. Đã sanh Tây phương, gặp Phật, nghe pháp, tuy có nhanh, chậm chẳng đồng, nhưng đều đã cao dự dòng thánh, trọn chẳng thối chuyển. Tùy căn tánh sâu, cạn, hoặc tiệm, hay đốn, chứng các quả vị. Đã được chứng quả, thời cần gì bàn đến khai ngộ. Chính là: nếu gặp Phật Di Đà, lo gì chẳng khai ngộ vậy.

Có thiền không tịnh độ, mười tu, chín lần chần, ấm cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo nó, nghĩa là: Người ấy tuy triệt ngộ Thiền tông. minh tâm kiến tánh, nhưng kiến, tư, phiền não chẳng dễ đoạn trừ, phải trải qua nhiều kiếp trui luyện mới được trừ sạch chẳng sót, thời với phần đoạn sanh tử mới có thể xuất ly. Một mảy chưa đoạn còn bàn luận gì. Cho đến cả khi còn một mảy chưa đoạn sạch hết, lục đạo luân hồi vẫn y như cũ khó thoát. Biển sanh tử sâu, đường bồ đề xa. Còn chưa về đến nhà, thì khi mạng chung, người đại ngộ mười người hết chín đều như vậy. Nên nói mười người, chín lần chần. Lần chần (ta đà) là chần chờ. Ấm cảnh là cảnh của trung ấm thân. Tức là khi lâm chung, cảnh do nghiệp lực thiện, ác trong đời này cùng bao kiếp hiện ra. Cảnh ấy một khi hiện ra, trong chớp mắt liền đi theo nghiệp lực thiện, ác mạnh mẽ nhất, liền đi thọ sanh trong đường thiện, ác. Một mảy chẳng thể tự làm chủ tể. Như người mắc nợ, chủ mạnh kéo trước. Tâm tình lắm mối đa đoan, chỗ nào nặng hơn thì rớt vào đấy. Ngũ Tổ Giới Nhiễm sanh làm Tô Đông Pha, Thảo Đường Thanh lại làm Lỗ Công, đấy là do lẽ trên vậy. Nên nói: Ấm cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo nó. Chữ ấm: âm và nghĩa đồng với chữ âm, nghĩa là che đậy. Tức là do nghiệp lực này, che lấp chân tánh, chẳng thể hiển hiện. Chớp mắt (ế) nghĩa là nháy mắt, chớp mắt.

Có người hiểu chữ Ta là lầm, ấm cảnh là ngũ ấm ma cảnh, chung quy vì chẳng hiểu thiền và chữ Có, nên đến nỗi giảng nói hồ đồ như vậy. Nào phải là bậc đại triệt đại ngộ, mười người tu chín người lạc đường, đi theo ngũ ấm ma nên bị ma dựa phát cuồng. Phàm kẻ bị ma dựa phát cuồng là chẳng biết giáo lý, chẳng minh tự tâm, là giống tăng thượng mạn, tu mù luyện đui thôi. Sao chẳng biết rành rẽ, mà đem gán cho bực đại triệt đại ngộ! Điều này quan hệ rất lớn, chẳng thể chẳng biện rõ.

Không thiền không tịnh độ. Giường sắt và cột đồng. Vạn kiếp cùng muôn đời. Không một ai nương dựa. Có kẻ bảo không thiền, không tịnh tức là vùi đầu tạo nghiệp ác, chẳng tu pháp lành. Thật là lầm lẫn lớn! Do pháp môn vô lượng, chỉ có thiền và tịnh là thích đáng cho các căn cơ hơn hết. Người ấy chưa được triệt ngộ, lại chẳng cầu sanh, lơ lơ là là, tu các pháp môn khác, định huệ đã chẳng thể quân bình, đoạn hoặc, chứng chơn, lại chẳng nương vào Phật từ lực, để mang nghiệp vãng sanh. Đem công đức trọn đời tu trì để cảm lấy phước báo sanh trong trời, người. Hiện đời đã không chánh trí, đời sau ắt theo phước chuyển, chìm đắm ngũ dục, rộng tạo ác nghiệp. Đã tạo ác nghiệp, khó thoát ác báo. Một khi đã thở hắt ra, liền đọa địa ngục, rành rành sẽ ở nơi gường đồng, cột đồng, bao kiếp dài lâu, nằm lăn, ôm ấp để trả cái tham thanh sắc, giết sanh mạng v.v..các thứ ác nghiệp. Chư Phật, bồ tát tuy rủ lòng xót thương, nhưng do ác nghiệp ngăn chướng, chẳng thể được lợi ích. Người xưa nói: người tu hành nếu chẳng chánh tín, cầu sanh Tây phương, tu các thiện khác thì gọi là oan gia đời thứ ba, chính là ý này. Ấy vì đời nay tu hành, đời sau hưởng phước, ỷ phước làm ác, liền bị đọa lạc. Được cái vui giả tạm trong đời kế mà muôn kiếp vĩnh viễn chịu khổ. Ví dù nghiệp địa ngục tiêu, lại chuyển sanh làm quỷ, súc. Muốn lại được thân người khó thật là khó. Vì vậy, Phật lấy tay vốc đất, hỏi A Nan rằng: Đất trong tay ta là nhiều, hay đất trong đại địa là nhiều? A Nan bạch Phật: Đất trong đại địa nhiều. Phật nói: Được thân người như đất trong tay, mất thân người như đất trong đại địa. [Xét theo lời Phật], muôn kiếp, ngàn đời, không một người nương dựa vẫn là lời luận gần, vì hạn cuộc vào vần kệ. Ôi, hết thảy pháp môn chuyên cậy vào tự lực. Tịnh độ pháp môn chuyên nhờ Phật lực. Hết thảy pháp môn hoặc nghiệp sạch hết, mới liễu sanh tử. Pháp môn tịnh độ đới nghiệp vãng sanh, liền dự dòng thánh. Vĩnh Minh đại sư e đời chẳng biết, nên riêng viết liệu giản để chỉ bày cho tương lai, đáng gọi là chiếc bè báu nơi bến mê, đạo sư nơi đường hiểm. Đáng tiếc người đời chỉ đọc lướt qua, chẳng chịu nghiên cứu kỹ. Do chúng sanh ác nghiệp đồng phận xui nên thế chăng?

Ông ấy nói: Tôi xưa tội gì, mê mất chơn thuyên, xưa có phước gì, được nghe lời thiết yếu? Xin được ghé vào tăng chúng, cầm nắm bình, khăn (9).

Tôi bảo: Tôi nào có đức gì dám nhận lời ấy. Những lời tôi nói đều là tuân theo ý chư Phật, chư Tổ. Ông nếu có thể ngửa tin Phật, Tổ, hoằng dương tịnh độ, thì không đức gì chẳng báo được, không tội gì chẳng diệt được. Xưa ngài Thiên Thân bồ tát ban đầu báng đại thừa, sau hoằng dương đại thừa để chuộc lỗi. Ông nếu có thể noi dấu của ngài, thì tôi nguyện xả thân cúng dường.

Thượng tọa bèn lễ Phật, phát nguyện rằng: Con tên là.. từ nay trở đi, chuyên tu tịnh nghiệp, chỉ cầu lâm chung, vãng sanh thượng phẩm, gặp Phật, nghe pháp, đốn chứng vô sanh. Sau đấy, chẳng rời An Dưỡng, khắp vào mười phương, nghịch, thuận, ẩn, hiển, các thứ phương tiện, hoằng thông pháp này, độ thoát chúng sanh đến tột vị lai, chẳng có gián đoạn. Hư không có tận, con nguyện vô cùng. Nguyện Thích Ca, Di Đà, thường trụ tam bảo, thương xót tấm lòng ngu thành của con, cùng rủ lòng nhiếp thọ.

Tôi bảo: Tịnh độ sự là đại nhân duyên, tịnh độ lý là bí mật tạng. Ông có thể tin nhận phụng hành, chính là lấy sự trang nghiêm của chư Phật để tự trang nghiêm.

Thượng tọa dạ dạ lui ra. Nhân đấy chép lại cuộc vấn đáp này để khuyên bảo người chẳng biết pháp này.

Trùng Đính Tây Phương Công Cứ hết

(Phật lịch 2545, ngày 28 tháng 06 năm 2001, Bửu Quang tự đệ tử Như Hòa kính dịch)

(1) Gởi tiền kho kiếp sau (ký khố lai sanh): Một hình thức mê tín của dân Tàu, đốt giấy tiền vàng bạc gởi tiền xuống âm phủ để chết đi có cái tiêu dùng dưới âm cung.

(2) Bất tiếu: Con không được như cha gọi là bất tiếu. Con hư cũng gọi là bất tiếu. Tiếu nghĩa là suy vi, hư hỏng, mất mát.

(3) Đây là dựa theo ý câu nói của La Thiện Uy đời Ngũ Đại: Hợp lục châu, tứ thập tam huyện thiết bất năng chú thử thác. (Đem sắt cả sáu châu, bốn mươi ba huyện đúc không nổi lỗi lầm ấy), ý nói lỗi to lắm. Tổ Ấn Quang viết: Chánh sở vị tụ vạn quốc cửu châu chi thiết, dã đào bất thành thử nhất cá đại thác.

(4) Ba vị Tăng, Trần, Vương đều là bậc danh thần đời Tống. Ông họ Sử đầu đời nhà Thanh đỗ trạng nguyên. Bốn vị này đều tin Phật, nhưng ông Trần Trung Tú hiểu đạo sâu sắc hơn cả. Do đời trước họ đều là cao tăng, nên tuy ở trong phú quý chẳng lầm nhân quả vậy (chú thích của ngài Ấn Quang)

(5) Chơn đễ: đối xử phải đạo, hòa thuận với anh chị em trong nhà gọi là đễ.

(6) Dẫn khánh: một pháp khí thường bằng đồng có cán, thường đánh lên để giữ nhịp khi đảnh lễ trong các chùa miền Trung, Nam. Ta chỉ gọi là khánh.

(7) Truyền tân: Củi tuy cháy hết mà lửa vẫn được tiếp nối. Đây là hình ảnh dùng để ví cho sự truyền thừa học thuyết, đạo pháp giữa thầy trò.

(8) Hàn Dũ, Âu Dương Tu: những nho gia bài xích kịch liệt Phật giáo

(9) Cầm nắm bình, khăn: ý nói hầu hạ như thị giả hầu thầy.

Báo Lỗi




 
 
 
 
 
 
 
 

Phàm thấy việc gì cũng đừng quá chấp tướng. Thấy tướng mạo tốt thì chớ sanh lòng vui thích; thấy tướng mạo xấu cũng chớ khởi phiền não.

Hòa Thượng Quảng Khâm
 
 

web analytics