Du Tâm An Lạc Đạo
Hán Văn: Đông Hải Nguyên Hiểu
Việt Văn: Sa-môn Thích Giác Chính

Dẫn nhập:

Hòa thượng Thích Nguyên Hiểu (Wonhyo) (617-688) vốn thuộc tông Hoa Nghiêm, họ Tiết, ngài là người nước Tân La (Silla, một vương quốc cổ của Triều Tiên).  Năm 29 tuổi, ngài xuất gia ở chùa Hoàng Long. Năm 660, ngài vượt biển sang Tàu, nhưng giữa đường chợt nghĩ: Ngoài tâm không pháp, cần gì phải tìm nơi khác nên quay về. Sư tự xưng mình là cư sĩ, người đời thường gọi là sư Hải Đông. Theo Ahn Kye-hyòn (An Khải Hiền) trong introduction of Buddism to Korea (Asian Humanities Press, 1989), ngài Nguyên Hiểu sau khi cưới công chúa Yosok đã hoàn tục và thệ nguyện dành trọn cuộc đời hoằng pháp. Trước ngài, tư tưởng Tịnh Độ ở Tân La đã được hoằng truyền bởi các vị Cát Tạng và Đại An, nhưng phải đợi đến ngài Nguyên Hiểu, Phật pháp, nhất là giáo nghĩa Tịnh Độ được giảng dạy phổ cập, dễ hiểu. Ngài thường đi khắp nơi gõ vỏ bầu hát khúc ca Muae (vô ngại) để giáo hóa Phật pháp cho mọi tầng lớp dân chúng.

Ngài trước tác nhiều tác phẩm rất giá trị, những bộ quan trọng nhất là Hoa Nghiêm kinh sớ, A Di Đà kinh sớ, Kim Cang Tam Muội kinh luận v.v.. Tác phẩm Du Tâm An Lạc Đạo này được Tịnh Độ tông Nhật Bản đánh giá rất cao, coi là một bộ luận quan yếu cho người tu Tịnh Độ.

Điểm đặc sắc trong luận này, được ngài nhấn mạnh nhiều lần là muốn được vãng sanh phải phát bồ đề tâm. Cũng như những luận sớ về tịnh độ khác, ngài nhấn mạnh đến yếu tố: tín, hạnh, nguyện, ba món tư lương cần thiết cho hành nhân niệm Phật. Cũng cần nói thêm là ngài có khuynh hướng dung hợp yếu tố Mật giáo như là một trợ duyên vãng sanh qua việc dùng cát có gia trì chú Đại Quán Đảnh Quang để rải lên thân người chết.

Hy vọng bản dịch nháp này sẽ giúp cho những hành giả tịnh độ củng cố thêm niềm tin vào bổn nguyện từ bi vĩ đại của đấng Tây Phương Từ Phụ, dũng mãnh tu trì. Nếu có chút phần công đức nào, kính xin hồi hướng cho hết thảy pháp giới chúng sanh cùng về Cực Lạc.

Báo Lỗi




 
 
 
 
 
 
 
 

Ðại để người tu Tịnh nghiệp: đi, đứng, nằm, ngồi, đứng lên, ngồi xuống, ăn uống đều nên hướng về phương Tây thì sự cơ cảm dễ thành, căn cảnh dễ thuần thục. Trong thất chỉ bày một tượng Phật, một quyển kinh, một lò hương, một cái bàn, một cái giường, một cái ghế, chẳng được bày nhiều thứ khác. Trên sân cũng quét dọn thanh tịnh để đi kinh hành không trở ngại gì. Cần giữ cho tâm này chẳng vướng bận mảy may gì, quên hết muôn mối lo, trống rỗng, chẳng biết có thân, chẳng hay có đời, cũng chẳng biết việc mình đang làm ngày nay là việc tu hành. Ðược vậy thì ngày càng gần với đạo, ngày càng cách xa đời, mới xu hướng Tịnh nghiệp được. Lúc bình thời ông đã có thể buông bỏ sạch hết thảy sự, trong ý niệm chẳng còn chút mắc mứu nào thì khi đại hạn xảy đến, thanh thản, thảnh thơi, chẳng có ý tưởng lưu luyến con cái, nuối tiếc tấm thân, con cháu, há chẳng phải là hành vi của bậc đại trượng phu ư? Bởi vậy, ông nên nhất ý tu hành, chẳng còn dính mắc điều gì khác nữa. Ðó chính là điều then chốt nhất

Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát
 
 

web analytics