Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương Sớ Sao
Hán Văn: Hương Nghiêm hành giả sa-môn Quán Ðảnh Tục Pháp giải
Việt Văn: Như Hòa

Quyển Thượng

(dịch theo bản của Hoa Tạng Tịnh Tông Phật Học Hội,
ấn bản tháng Sáu năm Dân Quốc 80 (1991)

Ðời Thanh, Triết Giang, chùa Từ Vân, Hương Nghiêm hành giả sa-môn Quán Ðảnh Tục Pháp[1][1] soạn

Lời Dẫn Nhập

Nghĩ tới tiên sinh Đông Cao từ ngàn dặm gởi thư cho tôi, tự nói suốt năm qua một mực chú tâm nơi Tịnh Độ. Gió cảnh giới Sa Bà lồng lộng, Chân Như Triết, Thảo Đường Thanh đều chẳng khỏi lỡ bước, tiên sinh khuyên tôi gắng lưu tâm sự kiện này. Tôi ngẫu nhiên nhắc đến chuyện này với pháp sư Bách Đình (tức hòa thượng Tục Pháp), pháp sư cho biết đã có cuốn Thế Chí Niệm Phật Chương Sớ Sao để trên án sách. Hai người cùng mở sách ra xem lại, đều hết sức nồng nhiệt khen ngợi, cho rằng: “Tiên sinh dùng thân để thực hiện [những giáo nghĩa này], đúng là những lời lẽ chữa bệnh cứu vãn thời thế vậy”. Tôi bèn bảo con cái quyên mộ để khắc ra. Khắc xong, pháp sư lại bảo tôi viết lời dẫn nhập.

Tôi nghĩ rằng trong đại kinh Hoa Nghiêm, [khi Thiện Tài đồng tử tham học với các vị thiện tri thức], trước hết ngài Đức Vân tuyên dạy pháp Niệm Phật, Mã Minh Bồ Tát là vị tổ tạo luận coi trọng cả Niệm Phật lẫn Chỉ Quán. Lăng Nghiêm là sách luận bàn về Tánh, chương Thế Chí Niệm Phật được xếp vào phần Viên Thông, rõ ràng Thiền Tông chẳng thể chèn ép Liên Tông, bảo đấy chẳng phải là đường lối để trở về nguồn thấy tánh được! Nay những tác phẩm Di Đà Sớ Sao, Long Thư Tịnh Độ Văn v.v… được lưu truyền trong chốn Thiền lâm. Nghĩ tới chương Thế Chí chỉ được giảng giải kèm thêm trong chánh kinh, chưa từng được viết sớ giải chuyên biệt. Pháp sư giảng giải kinh văn, giải thích ý nghĩa, khắc thành sách đã ban thêm cho người trong cõi Chấn Đán (Trung Hoa) một chiếc bè vãng sanh nữa, há chẳng đáng gọi là bậc công thần trong Tịnh Độ ư? Điều này càng rõ ràng hơn nữa. Do vậy, tôi bèn đem ý này phúc đáp Cao tiên sinh, rồi lại nói mò rằng:

- Liên Trì đại sư bảo: “Niệm Phật một tiếng để thay thế tạp niệm trong trăm ngàn vạn ức kiếp. Niệm ấy chính là Không, Không chính là niệm, bản thể đành rành! Chẳng phải ở ngoài niệm lại tìm được Bồ Đề nào khác”. Lại nói: “Chấp trì danh hiệu đến mức nhất tâm sẽ khôi phục được cái Thể không tịch”. Lại nói: “Cần biết do Tịnh Độ duy tâm nên không có ngoại cảnh. Tự tánh trở về bản thể, chính là ý nghĩa nguyện sanh về cõi ấy”. Như vậy là ngài Liên Trì tuy cực lực chủ trương Tây Phương Tịnh Độ nhưng chẳng bỏ sót tông chỉ kiến tánh của Tông môn, rành rành như thế đó! Cho nên nói rằng: Kiến tánh là chỗ chỉ quy của Tịnh Độ, nhưng Tịnh Độ là đường để vào kiến tánh, chẳng mâu thuẫn nhau. Kiến tánh thì chạm tay vào chỗ nào cũng đều là Tịnh Độ, nhưng chẳng thể bỏ không nói đến đài sen. Chưa kiến tánh thì chưa thể hoàn toàn thấu hiểu Tịnh Độ được, nhưng cái nhân đã gieo chẳng hề lỡ làng. Do vậy, dù kiến tánh hay không đều chẳng thể xem thường niệm Phật tu Tịnh Độ được! Dường như nghĩa này chưa được chương Thế Chí Viên Thông này nhắc tới. Tôi đã đem ý này phúc đáp ông Cao, nay viết vào đây để hỏi người thật sự niệm Phật nghĩ như thế nào?

Năm Canh Thân (1680) niên hiệu Khang Hy, Đới Kinh Tăng sinh trưởng ở Tiền Đường kính ghi.

 

Ðại Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh
Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương
Đường Thiên Trúc sa-môn Bát Lạt Mật Đế dịch

Đại Thế Chí Pháp Vương Tử dữ kỳ đồng luân ngũ thập nhị Bồ Tát, tức tùng tòa khởi, đảnh lễ Phật túc, nhi bạch Phật ngôn:

- Ngã ức vãng tích Hằng hà sa kiếp hữu Phật xuất thế, danh Vô Lượng Quang, thập nhị Như Lai tương kế nhất kiếp. Kỳ tối hậu Phật danh Siêu Nhật Nguyệt Quang. Bỉ Phật giáo ngã Niệm Phật tam-muội. Thí như hữu nhân, nhất chuyên vi ức, nhất nhân chuyên vong. Như thị nhị nhân, nhược phùng bất phùng, hoặc kiến phi kiến. Nhị nhân tương ức, nhị ức niệm thâm. Như thị nãi chí tùng sanh chí sanh, đồng ư hình ảnh, bất tương quai dị. Thập phương Như Lai, lân niệm chúng sanh như mẫu ức tử. Nhược tử đào thệ, tuy ức hà vi? Tử nhược ức mẫu, như mẫu ức thời. Mẫu tử lịch sanh, bất tương vi viễn. Nhược chúng sanh tâm, ức Phật, niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất định kiến Phật, khứ Phật bất viễn, bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai. Như nhiễm hương nhân, thân hữu hương khí. Thử tắc danh viết Hương Quang Trang Nghiêm. Ngã bổn nhân địa, dĩ niệm Phật tâm nhập Vô Sanh Nhẫn, kim ư thử giới, nhiếp niệm Phật nhân, quy ư Tịnh Độ. Phật vấn Viên Thông, ngã vô tuyển trạch, đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế, đắc tam-ma-địa, tư vi đệ nhất.

Ðại Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh

Ðại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương

Ðời Ðường, Sa Môn xứ Thiên Trúc là Bát Lạt Mật Ðế dịch từ Phạn sang Hán

Ðại Thế Chí Pháp Vương Tử cùng với năm mươi hai vị Bồ Tát đồng hạnh với Ngài liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân đức Phật, bạch Phật rằng:

  - Con nhớ trong hằng hà sa kiếp xưa kia, có đức Phật xuất thế tên là Vô Lượng Quang. Mười hai vị Như Lai liên tiếp [xuất hiện] trong cùng một kiếp. Vị Phật cuối cùng tên là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Ðức Phật ấy dạy con pháp Niệm Phật tam-muội. Ví như có người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên. Hai người như thế dù có gặp nhau mà như chẳng gặp, hoặc có thấy nhau cũng như không thấy. Hai người nhớ nhau, hai cái nhớ ấy càng sâu. Như thế cho đến từ đời này sang đời khác như hình và bóng chẳng hề trái nghịch, sai khác nhau. Mười phương Như Lai thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con bỏ trốn dẫu nhớ để làm gì? Nếu con nhớ mẹ như khi mẹ nhớ con thì mẹ con trải qua nhiều đời chẳng xa cách nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật thì hiện tiền, tương lai nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa, chẳng cần đến phương tiện, tâm tự được mở mang. Như người nhiễm hương, thân thường có mùi hương. Ðấy gọi là Hương Quang Trang Nghiêm. Lúc con tu nhân vốn là dùng tâm niệm Phật để nhập Vô Sanh Nhẫn. Nay con ở trong thế giới này nhiếp người niệm Phật quay về Tịnh Ðộ. Phật hỏi pháp nào Viên Thông, con chẳng chọn lựa. Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc Tam Ma Ðịa, đấy là bậc nhất.

 Kinh Lăng Nghiêm chép: “Phật bảo A Nan: - Nếu như có kẻ thân phạm đủ [các tội] Tứ Trọng, mười Ba-la-di[2][2], trong chớp mắt sẽ đọa vào địa ngục A Tỳ trong thế giới này lẫn thế giới khác cho đến đọa khắp [các ngục] Vô Gián trong tất cả mười phương, không ngục nào là chẳng bị đọa vào. Nếu trong thời mạt kiếp, có thể trong khoảng một niệm đem pháp môn này dạy cho người chưa được học đến thì tội chướng của người ấy sẽ liền tiêu diệt ngay trong niệm ấy, biến các nhân khổ sở trong địa ngục mà người ấy phải gánh chịu thành cõi yên vui”. Do vậy, chương kinh này thật đúng là lò luyện lớn lao đốt tan tội lỗi, là linh đan trị lành bệnh, là đường tắt để tu tâm, là phương cách trọng yếu để cầu vãng sanh. Nếu có thể thường thọ trì thì không khổ nào chẳng trừ, không niềm vui nào chẳng được hưởng, không nguyện nào chẳng thỏa, không quả nào chẳng đạt được. Phàm ai thấy nghe hãy đều nên suy đi nghĩ lại.

* Cách thức trì tụng hằng ngày:

Người có ba hạng:

1) Một là kẻ cực nhàn rỗi, hãy nên ngày đêm sáu thời trì kinh niệm Phật.

2) Hai là người nửa nhàn, nửa bận, mỗi ngày hãy nên hai thời sáng tối nhất tâm trì niệm.

3) Ba là người cực bận bịu, mỗi buổi sáng sớm hãy nên chuyên tâm trì niệm.

Pháp tắc trì tụng thì trước hết hãy xưng niệm Bổn Sư Phật ba lượt rồi đọc chương Thế Chí một biến, Vãng Sanh Chú ba biến, kệ Tán Phật một biến, niệm Phật mấy trăm câu, một ngàn câu hoặc một vạn câu tùy ý, niệm ba danh hiệu Bồ Tát mỗi danh hiệu ba lượt, rồi đọc kệ phát nguyện hồi hướng một biến. Trước khi tụng và sau khi tụng, đều phải đối trước thánh tượng chắp tay lễ ba lần. Nếu không có tượng Phật thì đối trước kinh hoặc hướng lên không trung lễ bái cũng được. Nếu có thể thường làm như thế không gián đoạn, ắt Phật thương xót, phàm có cầu nguyện chi không gì chẳng được toại ý, lúc lâm chung Phật và thánh chúng phóng quang tiếp dẫn, mau sanh về Cực Lạc. Hành giả hãy nên sanh lòng tín nguyện, chớ nên ngờ vực, coi thường!

Dưới đây là nói về cách thức tụng kinh và niệm Phật mỗi ngày. Nếu chỉ trì danh hiệu Phật và là người cực nhàn rỗi thì trừ sáu thời ra, hãy nên thời thời, khắc khắc niệm Phật không gián đoạn. Người nửa nhàn nửa bận thì hãy nên khi làm lụng xong xuôi liền niệm Phật ngay. Người cực bận bịu hãy nên tranh thủ lúc nhàn rỗi trong khi bận bịu, niệm Phật mười niệm. Cách này gọi là chẳng bỏ phí thời gian vậy. Trọn hết một đời này chẳng gián đoạn ngày nào thì tâm và miệng niệm Phật của chính mình ắt sẽ trở thành tâm và miệng của Phật. Kinh dạy: “Hạnh giống như Phật, mang khí phận của Phật, đích thân là con Phật”, chẳng phải đúng như thế hay sao?

          Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

          Tiếp đấy, tụng Thế Chí Chương xong, liền niệm tiếp Vãng Sanh Chú

          Nam mô a di đa bà dạ, đá tha già đa dạ, đa địa dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đá, tất đam bà tỳ, a di rị đá, tỳ ca lan đế, a di rị đá, tỳ ca lan đá, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, sa bà ha.

          Bất Tư Nghị Thần Lực Truyện chép: “Cách thức trì chú là thân thể sạch sẽ, súc miệng, thắp hương đối trước Phật, ngày đêm sáu thời, mỗi thời đều tụng hai mươi mốt biến, sẽ diệt được những tội như Ngũ Nghịch, báng pháp v.v… Tụng đủ ba mươi vạn biến sẽ thấy A Di Đà Phật”. Sách Di Đà Sớ Sao viết: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân tụng chú này thì A Di Đà Phật thường ở trên đỉnh đầu người ấy, ngày đêm ủng hộ không để cho oán gia có dịp thuận tiện [hãm hại] được, trong đời hiện tại thường được an ổn. Lúc mạng chung, tùy ý vãng sanh”.

Tiếp đấy đọc bài kệ tán Phật:

          A Di Đà Phật thân kim sắc,

          Tướng hảo quang minh vô đẳng luân,

          Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di,

          Cám mục trừng thanh tứ đại hải,

          Quang trung hóa Phật vô số ức,

          Hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên,

          Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh,

          Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật (trăm, ngàn, vạn câu tùy ý)

Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát

Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (mỗi danh hiệu mười lượt)

Sau đấy đọc kệ phát nguyện hồi hướng:

Ngã kim xưng niệm A Di Đà, chân thật công đức Phật danh hiệu. Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ, chứng tri sám hối cập sở nguyện. Vãng tích sở tạo chư ác nghiệp, giai do vô thủy tham sân si. Tùng thân ngữ ý chi sở sanh, nhất thiết ngã kim giai sám hối. Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời, tận trừ nhất thiết chư chướng ngại, diện kiến bỉ Phật A Di Đà. Tức đắc vãng sanh An Lạc sát. Nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật Tịnh Độ. Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ. Nhược hữu kiến văn giả, tất phát Bồ Đề tâm. Tận thử nhất báo thân, đồng sanh Cực Lạc quốc. Thập phương tam thế nhất thiết Phật. Nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.

(Con nay xưng niệm A Di Đà, danh hiệu Phật công đức chân thật. Kính xin từ bi thương nhiếp thọ, chứng biết con sám hối, nguyện cầu. Xưa kia đã tạo bao nghiệp ác, đều do vô thủy tham sân si. Từ thân - miệng - ý phát sanh ra, hết thảy con nay xin sám hối. Nguyện con vào lúc sắp lâm chung, trừ sạch hết thảy các chướng ngại, tận mặt thấy Phật A Di Đà, liền được vãng sanh cõi An Lạc. Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ. Trên đền bốn ân nặng, dưới cứu khổ ba đường. Nếu có ai thấy nghe, đều phát Bồ Đề tâm. Hết một báo thân này, cùng sanh cõi Cực Lạc. Mười phương ba đời Phật, hết thảy Bồ Tát Ma Ha Tát. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật).

          Bài này nên quỳ đọc trước tượng Phật. Đọc xong, đứng dậy lễ ba lạy rồi lui ra.

          Kệ rằng:

          Một bữa vô thường đến,

          Mới biết ta đang mơ,

          Muôn thứ đành bỏ lại,

          Riêng mình nghiệp theo thân.

          Thế nào là “muôn thứ đành bỏ lại?” Quan tước, của cải, đồ quý giá, nhà cửa, ruộng vườn, quần áo, món ăn, cho đến vợ đẹp, con yêu, hễ vô thường xảy đến đều không mang theo được. Thế nào là “riêng mình nghiệp theo thân?” Các ác nghiệp tham, sân, si, mạn, Ngũ Nghịch, Thập Ác do con người đã tạo, các thiện nghiệp Giới, Định, Huệ, Ngũ Giới, Thập Thiện con người đã hành, hễ vô thường xộc tới, chúng đều theo quý vị cả. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Khi lâm chung, lúc hơi nóng chưa tan hết, sự thiện điều ác trong cả một đời đều cùng một lúc nhanh chóng hiện ra. Ác thì liền cảm khổ báo trong tam đồ. Thiện thì cảm quả báo vui trong cõi trời người”. Nếu trong thiện tâm lại còn kèm thêm tín nguyện niệm Phật cầu vãng sanh ắt sẽ hiện cảnh tướng cõi Cực Lạc của Phật. Phẩm [Phổ Hiền] Hạnh Nguyện dạy: “Khi người ấy chết, hết thảy các căn thảy đều hư hoại, hết thảy thân thuộc thảy đều bỏ lìa, hết thảy oai thế thảy đều biến mất, voi, ngựa, xe cộ, trân bảo, kho đụn, không còn thuộc về kẻ ấy nữa. Chỉ có nguyện vương này là trong hết thảy lúc thường dẫn đường trước mặt, trong một sát-na liền sanh về thế giới Cực Lạc, thấy A Di Đà Phật và các thánh chúng”. Đã là như thế, sao chẳng giành ngay lúc khỏe mạnh này nỗ lực siêng năng tu tập? Ngài Thiện Đạo nói: “Dẫu cho vàng ngọc đầy nhà, khó khỏi suy tàn già bệnh! Dẫu ngươi khoái lạc ngàn muôn, rốt cuộc vô thường xảy tới, chỉ có nẻo tắt tu hành, chỉ niệm A Di Đà Phật”. Nếu đợi lâm chung mới hối, dẫu hối còn kịp hay chăng? Kính khuyên mọi người hãy kịp thời tấn tu. Sanh tử là chuyện lớn, vô thường mau chóng, hãy hết sức cẩn thận đối với chuyện này, xin hãy gắng lên nhé!

          Hơn nữa, người tu Tịnh nghiệp phải có đủ ba thứ tư lương:

1) Một là Tín: Tin luân hồi khổ nhất, tin niệm Phật mầu nhiệm nhất, tin rằng tu hành trong cõi này khó thể thành tựu đạo quả. Tin rằng nguyện sanh về cõi kia, thậm chí mười niệm, quyết được vãng sanh. Tin rằng với quả báo được sanh trong cõi trời người thì khi hết phước sẽ lại đọa. Tin rằng hễ sanh về cõi Cực Lạc, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, sẽ thành Chánh Giác. Tin rằng hễ xưng danh hiệu Phật một tiếng sẽ diệt được trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Tin rằng người niệm Phật được Phật Di Đà gia hộ, dắt dìu, khi bị bệnh sẽ được Ngài cứu vớt, che chở, khi lâm chung được Phật đến đón.

2) Hai là Nguyện: Nguyện tiêu nghiệp chướng, nguyện diệt các khổ, nguyện tâm mở mang, nguyện thấy Phật. Nguyện tịnh nghiệp thành tựu. Nguyện sanh về cõi An Dưỡng, nguyện được Phật thọ ký, nguyện độ sanh.

3) Ba là Hạnh: Thân lễ tượng Phật, miệng xưng danh, tâm quán tưởng, đều phải sao cho chuyên nhất, trọn chẳng tán loạn. Phải hiểu biết rằng khi tín nguyện chính là đã vun trồng hoa sen; khi chuyên niệm thì hoa sen bèn vượt khỏi mặt nước. Lúc công lao thành tựu, hoa sen bèn nở trên không. Nếu dấy lòng nghi ngờ, hối tiếc, hoa sen lại héo đi.

Do vậy, ngày đêm sáu thời không có một niệm nào tham luyến Sa Bà. Phàm đi đứng, ăn ở, ăn uống, nói năng, im lặng, động, tịnh, đều chẳng quên Tịnh Độ. Tới lúc lâm chung, hãy nên niệm Phật phát nguyện, chẳng được sợ chết, tham sống. Thường tự nghĩ rằng: Cái thân hiện tại của ta đây mọi thứ khổ chen nhau buộc ràng, những món bất tịnh tràn trề, nếu bỏ được cõi này, gởi thân nơi ao sen, hưởng vô lượng vui, mọi chuyện tột bậc vừa ý, như trút được cái áo hôi xấu, được mặc quần áo quý báu, sang cả, buông xuống vạn duyên, thân tâm giải thoát. Hễ vừa bị bệnh, chẳng cần biết là nặng hay nhẹ, liền nghĩ tới vô thường, một lòng đợi chết, liền dặn dò hết thảy mọi người: “Phàm ai đến gặp tôi đều niệm Phật cho tôi, chớ đừng nói tạp nhạp chuyện đời, tình cảnh gia đình hay dở!” Lại mời pháp sư nhiều lượt tới khuyên nhắc, nương theo kinh để chỉ dạy. Cho đến lúc bệnh nặng xả báo, người nhà thân thuộc chẳng được khóc lóc, thốt ra tiếng than thở buồn bã, áo não vì vẫn sợ làm cho tâm thần người sắp mất bị lầm lẫn, rối loạn, quên mất chánh niệm, chỉ lớn tiếng niệm A Di Đà Phật. Giữ như vậy cho đến khi người ấy tắt hơi, thần thức đã rời khỏi xác rồi mới được cất tiếng khóc. Nếu được như thế thì vạn người cầu, vạn người vãng sanh, ắt chẳng còn ngờ chi nữa!

Lại có kẻ gặp phải chướng nạn, chẳng thể chánh niệm vãng sanh, [chẳng hạn] như trúng phong, cấm khẩu, cuồng loạn mất trí, nước lửa, sét đánh, bị trùng thú quỷ ăn, trúng phải độc dược, chết trận, oán tặc, nạn vua, cũng phải sám hối sẵn, ắt sẽ được Phật che chở. Bởi lẽ người niệm Phật có sáu thứ lợi ích thù thắng:

1. Chư Phật, Bồ Tát hộ niệm. Đức Di Đà đứng trên đỉnh đầu phóng quang. Chư thiên, thần tướng ngày đêm ngầm gia hộ.

2. Ác quỷ, độc dược đều chẳng thể làm hại được.

3. Tam tai bát nạn[3][3] thảy đều tiêu trừ. Chướng duyên đời trước tiêu tan, được thoát khỏi kẻ thù oán đòi mạng.

4. Khí lực sung mãn, không mắc phải các thứ bệnh tật ngang trái.

5. Đêm nằm mộng tốt lành, thấy hình tượng Phật. Không bị những thứ phi nhân đoạt mất tinh khí.

6. Trong hiện tại được hết thảy lễ kính, lâm chung Tam Thánh tiếp dẫn.

          Do vậy, biết: Hằng ngày thường một dạ niệm Phật hiệu chính là pháp chuẩn bị sẵn để ngăn ngừa lo sầu. Như người vào thành làm việc, ắt trước hết phải kiếm chỗ an cư, ngõ hầu khi trời đêm tối om sẽ có chỗ để ngủ. “Kiếm chỗ để ở” chính là tu sẵn Tịnh nghiệp. “Khi trời đêm tối om” chính là khi đại hạn xảy tới. “Có chỗ để ngủ” chính là sanh trong hoa sen, chẳng gặp chướng ngại. Nếu con người y theo đó để dụng tâm, lúc lâm chung chắc chắn được vãng sanh. Đây lại là điều dặn dò thiết tha dành cho người tu Tịnh Độ vậy.

          Chùa Từ Vân, Hương Nghiêm hành giả Tục Pháp thuật bày, kính khuyên.

Lăng Nghiêm Kinh Thế Chí Niệm Phật
Viên Thông Chương Sớ Sao

Quyển Thượng

Đời Thanh, tỉnh Chiết Giang, chùa Từ Vân,

Quán Đảnh sa-môn Tục Pháp soạn

 

Phần giải thích:

Một chương kinh này được chia thành ba ý lớn:

1. Những ý chánh trong phần Thông Tự.
2. Giải thích kinh văn.
3. Quy mạng, hồi hướng.

I. Thông tự đại ý (những ý chánh yếu trong phần Thông Tự)

Gồm hai phần:

1. Giải thích rõ tông chỉ, nghĩa thú
2. Lược giải tựa đề kinh

1. Giải thích về tông chỉ, nghĩa thú:

Gồm 3 phần:

1.1. Tông thú[4][4] của pháp niệm Phật

1.2. Nêu bày những điều được giảng giải trong chương kinh này

1.3. Dẫn chứng những sự lợi ích thù thắng để khuyên tu

1.1. Tông thú của pháp niệm Phật

Sớ[5][5]: Lớn lao thay, pháp môn Niệm Phật gồm thâu cả Tiểu lẫn Đại, bao trọn lợi căn lẫn độn căn, Sự - Lý viên dung, Tánh - Tướng vô ngại. Phật chính là tâm, không tâm nào chẳng phải là tâm Phật. Tâm chính là Phật, không một Phật nào chẳng phải là Phật tâm. Tâm vừa nghĩ tới, Phật, Phật trọn bày. Vừa xưng danh hiệu Phật, tâm, tâm được hiển lộ ngay. Chẳng có Phật ở ngoài tâm để tâm nhớ tới, mà cũng chẳng có tâm ở ngoài Phật để đức Phật được xưng niệm bởi cái tâm ấy. Chúng sanh niệm Phật: Phật ở ngay trong tâm chúng sanh. Phật niệm chúng sanh: Chúng sanh ở ngay trong tâm Phật. Tâm này làm Phật, nếu tâm chẳng niệm Phật thì chẳng thể làm Phật được! Chính do Phật mà tâm được hiển lộ, nếu chẳng xưng niệm Phật thì tâm chẳng thể hiển lộ được. Cho nên biết rằng: Một môn Niệm Phật quả thật là diệu pháp để kiến tánh thành Phật vậy.

Sao: Từ chữ “lớn vậy thay” trở đi, chia làm hai phần. Trước hết là phần giải thích, lại gồm có ba ý:

1.1.1. [Ý thứ nhất]: Trước hết là trình bày tổng quát về phạm vi bao quát của pháp môn niệm Phật. “Lớn lao thay” chính từ ngữ khen ngợi, cũng là từ ngữ mở đầu [lời nhận định]. Từ chữ “pháp môn Niệm Phật” trở đi, chính là nói về pháp được khen ngợi. Câu đầu tiên nêu lên Thể (bản thể)[6][6]: Niệm Phật chính là nói riêng, “pháp môn” là nói chung.

Bốn câu kế tiếp (tức “pháp môn Niệm Phật gồm thâu cả Tiểu lẫn Đại, bao trọn lợi căn lẫn độn căn, Sự - Lý viên dung, Tánh - Tướng vô ngại”) giải thích về Tướng[7][7]:

Hai câu đầu nói về Người (tức đối tượng chủ yếu) [được nhiếp hóa bởi pháp môn này]. Nói “Đại, Tiểu” là ước về Thừa (giáo pháp); nói lợi, độn là ước về Căn (căn cơ được tiếp độ).

“Gồm thâu” là hướng dẫn, chỉ dạy căn tánh Tiểu Thừa, tức dẫn dắt căn tánh Tiểu Thừa hướng đến Đại Thừa; khuyên lơn, khích lệ căn tánh Đại Thừa hãy bỏ Quyền (phương tiện) hướng đến Thật, khiến cho ba tâm của bậc thượng căn (chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm) được phát khởi trọn vẹn, tiến thẳng vào Vô Sanh, làm cho kẻ hạ căn mười niệm thành công, cũng được sanh về cõi kia (nước Cực Lạc).

Hai câu kế đó nói về Pháp. Sự, Lý là ước về hạnh. Tánh, Tướng là ước về Đế[8][8]. “Viên dung, vô ngại”: Kẻ hạ căn ngu độn chấp Sự, mê Lý, người trí nhỏ chấp Lý bỏ Sự. Nay [pháp môn Niệm Phật] khiến cho họ thông suốt cả Sự lẫn Lý. Nương theo Lý để tu liền chứng Chân Đế, thấy được tự tánh Di Ðà. Nương theo Sự để tu liền chứng Tục Đế, sanh vào Cực Lạc tướng độ[9][9].

1.1.2. [Ý thứ hai]: Tiếp đấy, [trong đoạn “Phật chính là tâm, chẳng có tâm nào chẳng phải là tâm Phật. Tâm chính là Phật, không một Phật nào chẳng phải là Phật tâm”] lời Sớ lại đặc biệt chỉ rõ lý Bất Nhị trong ấy:

1.1.2.1. Trước hết là tâm và Phật không hai:

Bốn câu đầu ước theo Tánh để lập luận. Giảng về tâm và Phật, lời Sớ chia ra năm cặp:

- Một: Tâm ở ngoài Phật, Phật ở ngoài tâm.

- Hai: Phật ở trong tâm, Phật chỉ là tâm.

- Ba: Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm.

- Bốn: Tâm chẳng phải là Phật, Phật chẳng phải là tâm.

- Năm: Tâm và Phật viên dung, vô chướng, vô ngại.

Đem Ngũ Giáo (Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn, Viên) theo thứ tự phối hợp với năm cặp này sẽ hiểu được ý nghĩa. Nay tôi chỉ rõ ý nghĩa của câu thứ ba:

Tâm và Phật ở đây, xét về Thể, sẽ bao quát khắp tất cả, giống như kim loại và đồ vật vậy. Nếu dùng kim loại để thâu nhiếp đồ vật (tức là thấy toàn bộ những món đồ vật đều làm bằng kim loại) thì chẳng bỏ sót một món vật nào. Dùng đồ vật để nhiếp kim loại (tức là tìm kim loại từ nơi đồ vật), không một món nào chẳng bằng kim loại.

1.1.2.2. Tám câu tiếp theo kể từ chữ ‘tâm’ (tức từ câu: “Tâm vừa nghĩ tới…”) trở đi là ước theo phương diện Tu để nói:

“Tâm nghĩ tới Phật, Phật được xưng niệm bởi tâm” đều là giảng theo phương diện Tu. Tâm nghĩ tới Phật, Phật liền hiện bày; bởi lẽ, tâm chính là Phật. Xưng niệm Phật thì tỏ rõ được cái tâm, bởi lẽ, Phật chính là tâm. Không có gì để tâm nhớ nghĩ tới nên ngoài tâm không có Phật. Không có gì để xưng niệm Phật, cho nên ngoài Phật không có tâm. Phẩm Hồi Hướng trong kinh Hoa Nghiêm có câu: “Vô hữu trí ngoại Như vi trí sở nhập, diệc vô Như ngoại trí, năng chứng ư Như” (Chẳng có Như ở ngoài trí để được chứng nhập bởi trí ấy, mà cũng không có trí ngoài Như để chứng được cái Như[10][10] ấy) chính là giảng về nghĩa này.

1.1.3. [Ý thứ ba]: Từ chữ “chúng sanh” trở đi, lời Sớ bàn về ba thứ vô sai biệt, tức là: Tâm, Phật, chúng sanh chính là ba thứ vô sai biệt.

Bốn câu đầu [trong tiểu đoạn này] nhằm giảng rõ sự không sai biệt:

1.1.3.1. “Chúng sanh niệm Phật” nghĩa là chúng sanh ở trong tâm chư Phật đang niệm chư Phật ở chính ngay trong tâm chúng sanh. “Phật ở ngay trong tâm chúng sanh” nghĩa là ở ngoài tâm của chúng sanh không có đức Phật nào khác; bởi lẽ, chân tâm của Phật chính là chân tâm của chúng sanh. [Nói cách khác] câu này ngụ ý gồm thâu mọi pháp thuộc về mặt Nhân, không bỏ sót pháp nào. Vì thế mới nói: “Chúng sanh niệm Phật, hiện tiền, tương lai ắt được thấy Phật”. Kinh Hoa Nghiêm cũng dạy: “Hãy nên biết trong tự tâm, trong mỗi niệm thường có Phật thành Chánh Giác. Vì sao vậy? Do chư Phật Như Lai chẳng lìa tâm này để thành Chánh Giác vậy”.

1.1.3.2. “Phật niệm chúng sanh” là chư Phật trong tâm chúng sanh niệm chúng sanh trong tâm của chư Phật. “Chúng sanh ở trong tâm Phật” nghĩa là ngoài chân tâm của Phật chẳng có chúng sanh, nhưng chân tâm của chúng sanh lại chính là chân tâm của Phật. [Nói cách khác] đoạn này gồm thâu các pháp thuộc về mặt Quả chẳng còn sót pháp nào. Do vậy, nói: “Mười phương Như Lai nghĩ thương chúng sanh như mẹ nhớ con”. Phật Tánh Luận chép: “Hết thảy chúng sanh đều ở trong trí của Như Lai, hết thảy chúng sanh quyết định chẳng ra ngoài cảnh Như Như, đều được Như Lai nhiếp trì”.

1.1.3.3. Dựa theo Thanh Lương Sớ[11][11], [tâm, chúng sanh và Phật] lại được chia thành bốn câu như sau:

- Một là ở ngoài tâm của chư Phật, không có chúng sanh nào khác.

- Hai là ở ngoài tâm của chúng sanh, chẳng có Phật nào khác.

- Ba là tâm Phật, tâm chúng sanh, cả hai thứ cùng tồn tại, cùng hiện diện.

- Bốn là tâm chúng sanh và tâm Phật, đoạt lẫn nhau, cùng mất.

Nay tôi bèn dựa theo hai ý đầu [trong bốn câu vừa nêu trên đây] để giải thích lời Sớ như sau:

Bốn câu tiếp theo chữ “Tâm này” (tức các câu: “Tâm này làm Phật, nếu tâm chẳng niệm Phật thì chẳng làm Phật. Chính do Phật mà tâm được hiển, nếu chẳng xưng niệm Phật thì tâm chẳng thể hiển lộ được”) nhằm giảng rõ lại ý nghĩa của đoạn trước:

- Tâm vốn là Phật, do chẳng giác nên Phật ẩn. Nếu muốn làm Phật thì phải niệm tâm. Do vậy, Khởi Tín Luận viết: “Bổn Giác của chúng sanh và Bổn Giác của Phật chẳng có hai Thể. Nếu chẳng niệm tâm, khó thể thành Phật vậy”.

- Phật vốn là tâm, do vô minh nên tâm tăm tối. Nếu muốn tâm được sáng tỏ, phải nên niệm Phật. Do vậy, kinh Hoa Nghiêm dạy: “Phật trí rộng lớn, trọn khắp tâm của chúng sanh. Lời ăn tiếng nói của chúng sanh đều chẳng lìa ngoài pháp luân của Như Lai”. Nếu chẳng xưng niệm Phật, khó thể nào minh tâm được!

Từ chữ “cho nên biết” trở đi là lời kết. Di Ðà tức là tự tánh, Tịnh Độ hoàn toàn chỉ là nhất tâm. Hễ lìa ngoài tâm tánh, sẽ chẳng tìm được mảy may gì! Nếu có thể ức niệm thì đức Phật trong bổn tánh sẽ được hiển lộ. Khởi Tín Luận giảng: “Nhất tướng của pháp giới chính là Pháp Thân bình đẳng của Như Lai. Hễ đức Phật nơi Tánh được hiển lộ, sẽ tự chứng được Phật đạo nơi Quả”. Do đó, ngài Khuê Sơn nói: “Nay biết tâm chính là tâm của Phật, nhất định sẽ thành Phật”, chẳng đúng như thế hay sao? Nếu rời ngoài môn Niệm Phật ra mà muốn mau kiến tánh thành Phật tức là bỏ cái gần, cái dễ để cầu cái xa, cái khó vậy!

1.2. Nêu bày những điều được giảng giải trong chương kinh này

Sớ: Bởi vậy, mười hai đức Như Lai gọi [pháp niệm Phật] là tam-muội; còn Thế Chí Bồ Tát gọi là Viên Thông. Tam-muội bao gồm trọn hết các loại Thiền. [Danh xưng] Viên Thông hàm nghĩa “đầy đủ vạn hạnh”. Nhất tâm tu học Đốn Giáo, Thật Giáo, cũng chẳng đáng nên làm hay sao?

Sao: Từ chữ “bởi vậy” trở đi, chia thành ba đoạn:

1.2.1. Trước hết là phần Chánh Hiển (phần nêu rõ giáo pháp nào sẽ được giảng dạy trong chương kinh này):

Từ ngữ “bởi vậy” là từ ngữ dùng để tiếp nối đoạn trước nhằm khởi đầu đoạn sau.

 “Mười hai đức Như Lai gọi [pháp niệm Phật] là tam-muội”: Tâm phàm phu nhơ bẩn, đục ngầu như Hoàng hà, còn tâm ngoại đạo vọng tưởng phóng túng như ngựa chạy lồng lên; cho nên gọi pháp Niệm Phật là tam-muội ngõ hầu họ sẽ bỏ nhơ để trở thành tịnh, bỏ tán loạn hòng chứng nhập tịch tĩnh vậy.

“Thế Chí Bồ Tát gọi là Viên Thông”: Để đoạn Hoặc, chứng Chân, Tiểu Thừa phải trải qua bảy lần sanh [trong nhân gian], Quyền giáo phải trải qua ba A-tăng-kỳ[12][12] thì nhân mới đầy đủ, quả mới viên mãn được! Do vậy, nói “Viên Thông” là muốn cho họ mau chứng, chóng thành, vượt thoát trọn vẹn, chứng nhập trực tiếp vậy.

1.2.2. Từ “tam-muội bao gồm” trở đi, nêu ra hai tầng phân biệt. Tức là:

a. Tam-muội này bao gồm trọn khắp hết thảy các thứ Thiền Định thế gian lẫn xuất thế gian, khác hẳn các thứ tam-muội khác; giống như một lò nung to lớn đúc thành ngàn món vật.

b. Viên Thông là trọn vẹn tám vạn bốn ngàn hết thảy các thứ Quán Hạnh, khác hẳn những thứ Viên Thông khác, ví như thuốc A Già Ðà[13][13] trị chung vạn bệnh.

1.2.3. Hai câu sau cùng là ba thứ khuyên răn: Tam-muội là điều được giảng giải bởi Thật giáo. Viên Thông là pháp được giảng giải bởi Đốn giáo. Học Đốn Giáo và Thật Giáo là điều đáng nên làm.

Thêm nữa, lời Sớ trong phần trên (tức phần Tông Thú) nhằm chỉ ra ý nghĩa pháp Niệm Phật là Viên, còn lời Sớ trong phần này nhằm nêu thêm ý nghĩa: Pháp môn Niệm Phật cũng là Đốn và Thật.

a. Chúng sanh niệm Phật nhất định sẽ thành Phật, đấy là Thật. Luận Khởi Tín chép: “Chuyên niệm Di Ðà, tu thiện, hồi hướng, nguyện sanh về cõi ấy, cuối cùng được thấy Phật”. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Lúc mạng sắp hết, các căn rời rã, hư hoại, chỉ có nguyện vương này dẫn đường đằng trước, liền được vãng sanh, thấy Phật Di Ðà, được Phật thọ ký, chẳng lâu sẽ ngồi nơi Bồ Đề đạo tràng, thành Ðẳng Chánh Giác”. Chúng sanh nhớ Phật, hiện tiền liền thấy, tức là Đốn (nhanh chóng) vậy.

b. Kinh Phật Tạng dạy: “Không giác, không quán gọi là Niệm Phật. Không có tưởng, không có lời lẽ nào gọi là Niệm Phật”. Kinh Ma Ha Bát Nhã dạy: “Bồ Tát Ma Ha Tát niệm Phật, chẳng dùng Sắc để niệm, chẳng dùng Thọ, Tưởng, Hành, Thức để niệm do tự tánh của các pháp không tịch vậy”. Vì chương kinh này đã giảng kèm thêm các nghĩa Đốn và Thật, do vậy, pháp môn này đáng phải nên học.

1.3. Dẫn chứng lợi ích thù thắng để khuyên tu:

Sớ: Nghe nói danh hiệu Phật, Oai Quang[14][14] chứng nhập vô tận, nhớ tưởng cảnh Phật, Ðức Vân đắc nhiều môn giải thoát. Có ích lợi thù thắng như thế ấy, sao lại tự ruồng, tự bỏ, chẳng nguyện, chẳng tu ư?

Sao: Đối với bốn câu từ chữ “nghe nói”, trước hết là phần dẫn nhập. “Nói danh hiệu Phật” là như kinh Hoa Nghiêm chép: Lúc đức Thắng Vân Phật hiện nơi rừng Bảo Hoa, vang ra âm thanh nói danh hiệu của hết thảy chư Phật trong ba đời. Lúc ấy, đức Như Lai đó ở giữa chúng hội, nói kinh Phổ Tập Nhất Thiết Tam Thế Phật Tự Tại Pháp.

“Nhập vô tận” là như kinh Hoa Nghiêm đã chép: “Ở nơi Thắng Vân Phật, [thái tử Đại Oai Quang] chứng được Nhất Thiết Chư Phật Công Đức Luân tam-muội, chứng được Nhất Thiết Phật Pháp Phổ Môn Đà-ra-ni, biết rõ biển ‘hiểu quyết định trang nghiêm thành tựu’ của hết thảy chư Phật, biết rõ vô biên biển biến hiện thần thông trước hết thảy chúng sanh của Phật, rõ biết hết thảy pháp vô úy nơi Phật lực. Ở chỗ Thiện Nhãn Phật liền đắc Niệm Phật tam-muội có tên là Vô Biên Hải Tạng Môn. Mười ngàn pháp môn như thế đều thông đạt ”.

“Nhớ tưởng cảnh Phật” là như trong kinh Hoa Nghiêm, ngài Ðức Vân bảo Thiện Tài rằng: “Này thiện nam tử! Ta chỉ chứng được pháp môn Nghĩ Nhớ Thấy Trọn Khắp Cảnh Giới Trí Huệ Quang Minh Của Hết Thảy Chư Phật này”.

“Nhiều môn giải thoát” là như Kinh Hoa Nghiêm đã liệt kê hai mươi mốt thứ [giải thoát môn] từ Trí Quang Phổ Chiếu Niệm Phật môn cho tới Trụ Hư Không Niệm Phật môn[15][15] v.v...

Từ chữ “có ích lợi” trở đi, gồm hai ý khuyên lơn, để kết thúc tiểu đoạn này:

1. Trước hết là phần Khuyên Nhủ. Các pháp môn khác thì hoặc là nông cạn nên chẳng xứng hợp thượng căn, hoặc sâu xa nên hạ căn tuyệt chẳng có phần. Chỉ có một pháp này là gồm thâu lợi căn lẫn độn căn, giống như Thủy Thanh Châu[16][16] nên đến đâu cũng có ích. Do vậy, hãy nên tin nhận, hành trì. Niệm Phật giống như trồng lúa, tâm mình như ruộng nhà. Đối với Tín, hãy nên tin [chắc chắn] giống như hễ gieo cấy giống lúa ấy sẽ nhất định thu được thóc. Nguyện phải giống như khi biết giống lúa tốt ấy, nhất tâm mong thu hoạch được thóc. Hạnh phải như vui sướng cầu mong có được thóc, ra sức cày bừa.

2. Hai câu kể từ chữ “sao lại” trở đi chính là ý kết luận gồm hai ý trách móc. Nhân quả của mười cõi đều chỉ do tâm biến hiện. Cái tâm trong một niệm nếu nóng giận, tà dâm liền là cõi địa ngục. Nếu keo bẩn, tham lam chẳng bố thí thì là cõi ngạ quỉ. Hễ ngu si tăm tối tức là cõi súc sanh. Nếu ngã mạn kiêu căng liền là cõi Tu La. Giữ vững Ngũ Giới bèn là Nhân pháp giới. Chuyên tu Thập Thiện bèn là Thiên pháp giới. Chứng ngộ Nhân Không là Thanh Văn giới. Biết tánh của duyên vốn rời lìa, đấy chính là Duyên Giác giới. Lục Độ đều cùng tu, đấy là Bồ Tát giới. Lòng Từ bình đẳng chân thật là Phật pháp giới. Nay chương kinh này dạy pháp Niệm Phật là muốn cho hành nhân niệm tự tâm, thành đức Phật của chính ta sẵn có. Sao lại bỏ đức Phật trong tự tâm, phụ bạc lời Phật dạy ư? Như Lai Bất Tư Nghị Cảnh Giới Kinh dạy: “Bồ Tát biết rõ chư Phật cùng hết thảy pháp đều chỉ là do tâm lượng nên đắc Tùy Thuận Nhẫn[17][17], khi xả thân mau sanh về tịnh độ Cực Lạc”.

Chiếu luật sư hỏi:

- Kinh chép: “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Tâm đã là Phật, sao lại cần phải niệm đức Phật khác?

Ðáp:

- Chỉ vì tâm vốn là Phật cho nên mới dạy chuyên niệm vị Phật ấy. Kinh Phạm Võng [Bồ Tát] Giới dạy: “Tin biết hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, ta là Phật chưa thành, chư Phật là Phật đã thành”. Vị Phật trong tâm ông là Phật chưa thành, Phật Di Ðà là Phật đã thành. Vị Phật chưa thành chìm đắm trong biển dục đã lâu, trọn đủ các phiền não, khó biết thuở thoát ra. Vị Phật đã thành thì chứng Bồ Đề từ lâu, có đầy đủ oai thần, hay cứu giúp chúng sanh. Do vậy, chư Phật khuyên phải niệm Phật. Tức là dùng vị Phật chưa thành của ta để cầu vị Phật đã thành của người, hầu cứu giúp cho vậy. Chúng sanh nếu chẳng niệm Phật thì thánh - phàm sẽ mãi mãi cách biệt. Cha con chống trái nhau sẽ ở mãi trong luân hồi, cách Phật thật xa. Bởi thế, các vị đại Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền v.v... đều nguyện niệm Phật vãng sanh, huống hồ bọn phàm phu chúng ta ư? Vả nữa, loài sâu bọ kia nghe lời giáo hóa còn được thành tựu, loài người vẫn chẳng bằng loài trùng hay sao? Đã chẳng nguyện mà còn tự buông bỏ thì là mê lầm quá sức vậy!

2. Lược giải tựa đề của kinh

          Sớ: Lăng Nghiêm (Surangama) nghĩa là “hết thảy sự rốt ráo, kiên cố”, chính là tên chung của cả bộ kinh. Viên Thông là thánh tánh pháp môn, không gì chẳng thông, là đề mục riêng của một chương kinh này. Thế Chí là người khải giáo[18][18]. Niệm Phật là pháp để tu hành. Phần kinh văn này tuy chỉ gồm mười hai hàng, nhưng nghĩa bao trùm các kinh Tịnh Độ: có Giáo, có Cơ (căn cơ), có Pháp, có Dụ (thí dụ), bao gồm trọn khắp sự cảm ứng giữa chúng sanh và Phật, nhân, quả, ta, người đều thấu triệt. Làm đèn, làm trăng cho tâm cảnh, là thuyền bè cho thánh phàm. Do vậy, có tên là Lăng Nghiêm Kinh Thế Chí Niệm Phật Viên Thông Chương.

          Sao: Từ chữ “Lăng Nghiêm” trở đi, trước hết, lời Sớ giải thích tên kinh. “Hết thảy sự” chính là ba khoa[19][19], bảy đại[20][20]. “Rốt ráo” là Không, “kiên cố” là Bất Không. Hợp cả hai nghĩa này tức là Không Bất Không. Uẩn, Xứ, Giới, Đại vốn là Như Lai Tạng[21][21], nên mọi sự rốt ráo kiên cố thì gọi là Lăng Nghiêm Định. Ðã trụ nơi pháp vị, tướng thế gian thường trụ, nên Định này còn được gọi là Kiện Tướng (tướng mạnh mẽ) tam-muội. “Thánh tánh” là nói về Lý, “pháp môn” là ước về Giáo. Qua sự trình bày đại lược về Hạnh và Quả, ta có thể hiểu được ý nghĩa tên kinh này. Tựa đề kinh và tên của chương kinh này đã chỉ ra bốn pháp hỗ tương: Viên (tròn đủ), Biến (trọn khắp), Cai (gồm cả), Thông (thông suốt). Nương vào Chỉ[22][22] để thành tựu Định thì gọi là Lăng Nghiêm. Nương vào Quán để thành tựu Huệ thì gọi là Viên Thông.

“Ðề mục riêng” (tên gọi riêng của chương kinh này) chính là pháp Niệm Phật Viên Thông của ngài Thế Chí, đây là một trong hai mươi lăm pháp Viên Thông để tu đạo.

Từ chữ “Thế Chí là người” trở đi cũng là nói đại lược nhưng ý nghĩa vẫn đầy đủ. Đúng ra phải nói là: Người có thể khơi mở, có thể tu tập [pháp môn này] chính là ngài Thế Chí. Cái được khơi mở, được tu tập chính là pháp Niệm Phật.

Ðoạn văn tiếp đó là lời tiểu kết ở cuối phần này nhằm khen ngợi, gồm hai ý:

1. Trước hết là lời khen riêng. Đức Phật dạy ta niệm Phật là Cơ Giáo (dạy dỗ thuận theo căn cơ. Phần Sớ viết là “có Giáo” – chú thích của người dịch). Dùng hình ảnh “mẹ con, nhiễm mùi hương” là những thí dụ của Pháp này. Đức Như Lai thương nghĩ chúng sanh, chúng sanh nhất tâm nhớ Phật, đấy là sự cảm ứng giữa Phật và chúng sanh. Ta do niệm Phật, chứng nhập Nhẫn liền nhiếp người niệm Phật trở về với Tịnh, đấy chính là nhân và quả của ta và người.

2. “Làm đèn, làm trăng cho tâm cảnh”: Nương vào tự tâm của chính mình để niệm cảnh Phật ấy, cảnh Phật sẽ hiển hiện. Dựa vào cảnh Phật đó để niệm tự tâm của chính mình thì tự tâm dễ hiển lộ.

Những điều được chỉ bày trong chương này đều là nhờ vào giáo pháp giống như trăng, như đèn để chiếu soi hòng thấy được. “Ngoài tâm có cảnh” là giáo pháp Tiểu Thừa. “Cảnh chỉ là tâm” là Thỉ Giáo. “Tâm chính là cảnh, cảnh chính là tâm” là Chung Giáo. “Chẳng phải cảnh, chẳng phải tâm” là Đốn Giáo. “Tâm cảnh vô tận” là Viên Giáo.

Đối với những pháp được giảng giải (sở thuyên pháp) thì dùng đèn và trăng để ví cho năng thuyên giáo (giáo lý dùng để giảng giải những pháp ấy) thì: Thanh, danh, cú nghĩa[23][23] môn giống như ánh đom đóm, là Tiểu Giáo. Nhiếp cảnh duy tâm môn (thâu gom cảnh về tâm, tức thấy hết thảy các cảnh chỉ là do tâm biến hiện) giống như lửa đèn, là Thỉ Giáo. Lý Sự vô ngại môn giống như ánh sao là Chung Giáo. Gom hết tất cả những môn trên đây lại để quy về tánh giống như vầng trăng chính là Đốn Giáo. Hàm chứa vô tận khắp các môn giống như mặt trời chính là Viên Giáo. Nay trong lời Sớ này, lấy đại lược hai nghĩa trong các nghĩa ấy để nói.

“Thuyền bè cho thánh phàm”: Niệm danh hiệu Phật, thọ trì Tam Quy, Ngũ Giới, vượt khỏi tam đồ. Hạ Hạ Phẩm vãng sanh được gọi là Nhân Thừa, ví như thuyền nhẹ chỉ vượt được khe lạch. Niệm sắc tượng Phật (tức phép Quán Tượng), tu hành Thiền và các điều thiện, vượt thoát bốn châu[24][24], sanh trong hoa sen hạ phẩm, gọi là Thiên Thừa, ví như thuyền nhỏ[25][25], vượt được cửa sông nhỏ. Niệm Ứng Hóa Phật, quán Tứ Chân Đế (Tứ Thánh Đế), vượt khỏi ba cõi, sanh trong hoa sen Trung Phẩm, gọi là Thanh Văn Thừa, ví như chiến thuyền, vượt qua hồ lớn. Niệm Thọ Dụng Phật[26][26], liễu ngộ nhân duyên, chứng nhị Niết Bàn (Hữu Dư và Vô Dư Niết Bàn), sanh trong hoa sen Thượng Phẩm, gọi là Duyên Giác thừa, ví như thuyền lớn, vượt qua sông to. Niệm đức Phật nơi pháp tánh, vận dụng Trí lẫn Bi, hưng khởi vạn hạnh chặt chẽ, thành Vô Thượng Đạo, vượt trỗi các cõi phàm phu, Tiểu Thừa, vãng sanh Thượng Thượng Phẩm, gọi là Bồ Tát Thừa, ví như hạm thuyền, vượt thẳng qua biển cả.

Lại nữa, Trì Danh Niệm Phật như đặc thuyền, là Thanh Văn Thừa. Quán Tượng Niệm Phật như phương thuyền, là Bích Chi Phật. Quán Tưởng Niệm Phật như duy thuyền, là Bồ Tát thừa. Thật Tướng Niệm Phật như tạo thuyền[27][27], là Phật Thừa vậy.

“Thánh phàm” chính là người được hóa độ. “Thuyền bè” ví von pháp dùng để giáo hóa. Chữ “Do vậy, gọi là” dùng để tổng kết.

 

II. Giải thích kinh văn

 

Gồm hai phần:

1. Trình bày đại lược ý nghĩa chánh yếu.

2. Giải thích tường tận ý nghĩa kinh văn.

 

1. Trình bày đại lược ý nghĩa chánh yếu

 

Sớ: Phần giải thích ý nghĩa kinh này được chia thành năm môn:

- Một là nhân duyên phát khởi giáo pháp này.

- Hai là phân định giáo pháp này thuộc về tạng nào, thừa nào.

- Ba là tông thú, chỉ quy.

- Bốn là lược giải tựa đề của kinh.

- Năm là giải thích tường tận ý nghĩa kinh văn.

 

Sao: Hai câu đầu là lời trình bày tổng quát. Từ chữ “Một là” trở đi là phân biệt từng môn. Ở đây dựa theo ý tưởng của Bát Nhã Sớ, chia đại lược thành năm chương. Ba chương đầu thuộc về nghĩa môn (luận bàn về ý nghĩa), hai chương sau là phần giải thích chánh yếu.

 

2. Giải thích tường tận ý nghĩa kinh văn

 

          Gồm năm phần:

          - Giáo hưng (nguyên nhân phát khởi giáo pháp)

          - Tạng nhiếp (phán định kinh văn thuộc về tạng nào)

          - Tông thú (tông chỉ, chỗ quy hướng của kinh)

          - Giải thích đề mục kinh

          - Giải thích kinh văn

 

2.1. Giáo hưng

 

          Sớ: Thứ nhất, nhơn duyên khởi giáo. Trí Ðộ Luận chép: “Như núi Tu Di, chẳng phải là không có nhân duyên, chẳng phải là do nhân duyên ít ỏi mà có thể lay động nó được”. Giáo pháp Niệm Phật được khởi lên cũng giống như thế, phải hội đủ nhiều nhân duyên:

a. Một là chỉ ra con đường tu hành nhanh tắt.

b. Hai là nhằm chỉ bày trực tiếp vào đức Phật trong tự tâm của đương nhân (người được giáo hóa hoặc đối tượng nghe pháp này).

c. Ba là nhằm làm cho họ ngộ nhập tâm tánh của Phật.

d. Bốn là hiển thị tâm, chúng sanh, và Phật không sai biệt.

e. Năm là độ thoát phàm phu, ngoại đạo được vượt thoát khỏi ba cõi theo chiều ngang (hoành siêu).

f. Sáu là tiếp dẫn Quyền, Tiểu viên thành Phật quả.

g. Bảy là khiến cho ba bậc vãng sanh được trọn đủ, chẳng còn nghi ngờ, hối hận.

h. Tám là tạo lợi ích cho đời này, đời sau, bao hàm trọn khắp vô tận.

i. Chín là mau chóng thâu nhiếp sáu căn chứng cảnh Viên Thông.

j. Mười là mau sạch hết phiền não, quyết định sanh sang nước Phật.

 

          Sao: Câu đầu tiên trong lời Sớ là câu dẫn khởi. Từ chữ “Trí Ðộ Luận” trở đi là lời giải thích ý nghĩa [vì sao pháp môn Niệm Phật được hưng khởi], gồm hai ý:

1. Trước hết là dẫn chứng. Câu “như núi Tu Di” là thí dụ.

2. Từ chữ “niệm Phật” trở đi là Hợp (tức là dựa vào ví dụ để nêu lên luận điểm của mình).

Từ chữ “một là” trở đi chính là phần giải thích chánh thức. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Sơ tâm nhập tam-muội, lâu mau chẳng giống nhau”. Do vậy, biết là: Học đạo nơi các pháp môn khác quanh co, hiểm trở, gian nan, ví như tổ kiến; còn môn Niệm Phật, từ xưa đã gọi là “đường tắt” thì rất giống như gió và nước. Tổ Thiện Ðạo nói: “Chỉ có đường tắt tu hành, chỉ niệm A Di Ðà Phật. Huống chi nay lại trì danh, đấy lại là đường tắt nhất trong các đường tắt. Nếu muốn thành tựu trong một đời hãy nên lưu tâm nơi pháp này”.

          Từ chữ “hai là” trở đi, như Quán Kinh dạy: “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Biển Chánh Biến Tri của chư Phật từ tâm tưởng sanh”. Vì thế, dạy cho con người niệm Phật chính là dạy họ niệm đức Phật trong tự tâm vậy.

          Câu “ba là” giảng về tâm tánh của Phật. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Ta do bất diệt bất sanh mà hợp với Như Lai Tạng, nhưng Như Lai Tạng chỉ là diệu giác minh, chiếu trọn vẹn pháp giới”. Vô Sai Biệt Luận giảng: “Tâm tánh này sáng sạch, có cùng một Thể với pháp giới. Như Lai dựa vào tâm này để nói ra pháp chẳng thể nghĩ bàn”. Do vậy, biết: Đức Phật lấy pháp tánh thanh tịnh nơi Như Lai Tạng để làm tâm vậy.

“Làm cho họ ngộ nhập”: Luận Khởi Tín chép: “Tướng tự thể của Chân Như ở phàm phu hay chư Phật đều chẳng tăng, giảm”. Trong kinh Lăng Nghiêm, ngài Phú Lâu Na nói: “Cái tâm trong sạch, chân thật, mầu nhiệm, quí báu, giác ngộ, tròn đủ, trong sáng của con và Như Lai đều viên mãn không hai”. Quán Kinh dạy: “Lúc tâm các ông tưởng Phật thì tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp tùy hình”. Vì thế, lúc chúng sanh niệm đức Phật trong tâm liền có thể ngộ nhập tâm tánh của Phật.

          Đối với câu “bốn là”, Vô Sai Biệt Luận giảng: “Chúng sanh giới chẳng khác Pháp Thân, Pháp Thân chính là chúng sanh giới”. Quán Kinh dạy: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới vào trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh”.Trong đoạn sau, chương kinh Lăng Nghiêm này lại dạy: “Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, hiện tiền nhất định thấy Phật”, tức là pháp môn này có thể tỏ lộ rõ ràng tâm, Phật, chúng sanh ba thứ vô sai biệt vậy.

          Trong câu “năm là”, phàm phu ngoại đạo do Kiến Tư Hoặc mà khởi nghiệp, cảm báo, luân chuyển chẳng ngơi. Nếu nương theo các pháp khác để tu thì phải cho đến khi hết Hoặc mới được xuất ly, nên gọi là “vượt thoát tam giới theo chiều dọc” (Thụ Xuất). Chỉ có pháp môn Niệm Phật là có thể mang theo [Kiến Tư] Hoặc để vãng sanh, nên gọi là “vượt thoát tam giới theo chiều ngang” (Hoành Siêu). Như con sâu ở trong cây tre nếu đục thủng từng đốt theo chiều dọc sẽ khó thoát ra được, còn đục ngang lóng thì trong chốc lát sẽ thoát ra. Pháp sư Ðồng Giang nói: “Thụ Xuất là nương theo Tứ Đế, nhân duyên, các Độ, trải qua các địa vị, như muốn đỗ đạt phải có tài học. Như để được lần lượt thăng chức trong quan trường, phải có công lao. Hoành Siêu là pháp môn Niệm Phật, giống như người được tập ấm[28][28], do công của tổ phụ, do sức của người khác, bất luận có học vấn có hay không. Lại như bầy tôi được vua ban ân phong chức cho tổ phụ nhiều đời, công do quốc vương, chẳng cần biết làm quan lâu hay mau”.

          Trong câu “sáu là”, sáu thứ tâm của Bồ Tát khiến họ đọa vào địa vị Thanh Văn, trải qua kiếp số nhiều như vi trần chẳng hồi phục được tâm Đại Thừa. Ví như hoa Yêm La (hoa xoài), như cá con, về mặt nhân tuy có thật nhiều, nhưng kết quả thật ít. Nếu có thể niệm Phật, phát ra ba tâm viên mãn (tức chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm), tự nhiên sẽ chuyển Quyền thành Thật, hồi Tiểu hướng Đại, như kẻ áo trắng chợt trở thành quý hiển, từ đất bằng lên tiên vậy. Do đó, kinh Ðại Bổn (Vô Lượng Thọ Kinh) dạy: “Bồ Tát muốn làm cho chúng sanh mau chóng an trụ nơi Vô Thượng Bồ Đề thì hãy nên dấy lên sức tinh tấn nghe pháp môn này”. Hơn nữa, mười địa vị thuộc bậc Thập Địa trong kinh Hoa Nghiêm, trước sau chẳng ra ngoài pháp Niệm Phật. Bậc Đăng Địa[29][29] trong Viên Giáo còn phải như thế, huống là những người thuộc hạng Quyền, Tiểu, Sơ Tâm ư?

          Câu “bảy là” ngụ ý: Thượng phẩm lợi căn nghe giáo pháp Tiểu Thừa liền hối tiếc, hạ phẩm độn căn nghe giáo pháp Đại Thừa liền nghi. Do vậy, trong hội Hoa Nghiêm, hàng Thanh Văn tuyệt chẳng có phần. Trong thời A Hàm, Bồ Tát chẳng dự. Nay một pháp Niệm Phật đây, như Vạn Ứng Cao (tức thuốc A Già Đà), bệnh ngặt đều khỏi; như mưa đúng thời, cỏ cây đều tươi tốt. Thế nên, pháp này thâu nhiếp trọn vẹn lợi căn lẫn độn căn, gồm thâu thượng phẩm lẫn hạ phẩm.

Trong câu “tám là”, “lợi ích cho đời này” nghĩa là trong hiện tại, đức Phật giảng dạy phù hợp cơ nghi, “lợi ích cho mai sau” chính là tạo lợi ích cho kẻ thấy nghe ngay cả khi đức Phật đã diệt độ. Như trong phần sau của chương kinh này đã dạy: “Nay ở trong cõi này, nhiếp thọ người niệm Phật quay về Tịnh Độ”. Quán kinh chép: “Nay đức Như Lai vì hết thảy chúng sanh bị giặc phiền não làm hại trong đời vị lai mà nói nghiệp thanh tịnh”. Do vậy, pháp Niệm Phật giống như Như Ý Châu, lợi lạc trọn khắp vô tận vậy.

Câu “chín là” ngụ ý: Hết thảy chúng sanh do mê mất cái tâm thường trụ nên khởi lên các thứ vọng tưởng, mắc vào sắc, thanh, trái nghịch cảnh viên thông. Nay niệm Phật sẽ nhiếp trọn sáu căn, giữ được chân thường, thường quang hiện tiền, cảnh Viên Thông dấy lên, dẫu chẳng muốn chứng cũng không thể được. Bởi vậy, trong kinh Hoa Nghiêm, trưởng giả Giải Thoát nói: “Biết hết thảy Phật giống như ảnh, hình tượng, tự tâm giống như nước. Hễ nước trong lặng, trăng sẽ hiện toàn thể”. Lại còn nói kệ như sau:

Bồ Tát giống như trăng trong mát,

Thường dạo chơi nơi Tất Cánh Không[30][30].

Do tâm chúng sanh nhơ hay sạch,

Mà Bồ Tát hiện bóng hay không.

Cho nên biết rằng: Chúng sanh tịnh niệm, Di Ðà quyết định phóng quang minh. Hễ tâm thủy chẳng tịnh, cảnh trăng Viên Thông của Bồ Tát cũng chẳng hiện.

Câu “mười là” ý nói: Đời Mạt Pháp tu hành có nhiều thứ chướng nạn, tà ma nhiễu loạn, Phật đạo khó thành. Nay tu Niệm Phật tam-muội, nương vào nguyện lực oai thần của Phật, mau trừ được phiền não, nhanh chóng phá vô minh, ma Ngũ Uẩn tiêu tan, ba thân Phật sẽ hiện, sẽ sanh về cõi Phật Cực Lạc, thành tựu hai quả Chân và Ứng vậy. Như ngọn đèn sáng lớn thắp ở trong nhà, không những xóa tan bóng tối ngàn năm mà còn soi tỏ các vật.

Nhưng mười nguyên nhân này lại sanh khởi theo thứ tự:

- Trước hết, để nhập đạo thì có nhiều môn, nhưng sự khó - dễ trong mỗi môn đều khác, chỉ ra pháp Niệm Phật là đường tắt nhất.

- Thứ hai, đây là đường tắt vì niệm đức Phật trong tự tâm.

- Ba là do niệm đức Phật ở trong tâm nên mới có thể thành tựu cái tâm của Phật.

- Bốn là nếu khế hợp Phật tâm thì chúng sanh và Phật đồng thể, chẳng có hai.

- Năm là nếu đã chẳng phải hai, há còn có phàm phu, ngoại đạo nào chẳng được độ thoát ư?

- Sáu là chẳng tiếp độ riêng mình phàm phu, ngoại đạo, mà còn tiếp độ những người thuộc hạng Quyền, Tiểu.

- Bảy là chẳng chỉ Ngũ Thừa mà còn độ trọn khắp hết thảy chúng sanh dù thiện hay ác.

- Tám là chẳng chỉ lợi lạc trong hiện tại mà còn lợi khắp đời vị lai chẳng cùng tận.

- Chín là tế độ rộng lớn như thế chính là viên thông.

- Mười là hễ tu nơi Hữu Tác[31][31] thì cuối cùng sẽ thành bại hoại. Nay đã viên thông, ắt sẽ thấy Phật sanh về Tịnh Độ.

Lại nữa, do quyết định sanh sang cõi Phật, cho nên chỉ ra pháp môn đường nẻo nhanh tắt là nhằm muốn cho hành nhân tu hành mau được thành Phật. Trước sau liên hoàn như thế, giống như các mắt xích móc vào nhau. Giáo pháp này được hưng khởi chẳng phải là không có nguyên nhân vậy!

 

2.2. Tạng nhiếp

 

Sớ: Hai là xét xem giáo pháp thuộc về thừa nào, tạng nào. Trong ba tạng, [kinh này] thuộc về Khế Kinh Tạng. Trong hai tạng, kinh này thuộc về Bồ Tát Tạng. Trong ba thừa, kinh này thuộc về Đại Thừa. Trong Ngũ Giáo, kinh này thuộc về ba giáo sau.

 

Sao: Chữ “hai là” để nêu vấn đề. Từ chữ “Trong” trở đi là lời giải thích về tướng. Tam Tạng là:

1) Tu Đa La (Sutra), Hán dịch là Khế Kinh, tức là Kinh Tạng, giảng về Định Học.

2) Tỳ Nại Da (Vinaya), Hán dịch là Ðiều Phục, tức là Luật Tạng, giảng về Giới Học.

3) A Tỳ Ðạt Ma (Abhidharma), Hán dịch là Đối Pháp, giảng về Huệ Học.

Nay kinh này thuộc về Kinh Tạng, từ đầu đến cuối, chuyên nói về Niệm Phật tam-muội.

Hai tạng là:

1) Bồ Tát Tạng: Nói bày lý, hạnh, quả của Bồ Tát.

2) Thanh Văn Tạng: Giảng bày về lý, hạnh, quả của Thanh Văn.

Nay kinh này thuộc về Bồ Tát Tạng; kinh này diễn nói pháp Niệm Phật Viên Thông của hàng Bồ Tát.

Tam Thừa là:

1) Tiểu Thừa Thanh Văn, tức là pháp môn Tứ Đế chuyên chở chúng sanh ra khỏi tam giới đến thành Niết Bàn, thành A La Hán, ví như xe dê.

2) Trung Thừa Duyên Giác, tức là pháp môn [Thập Nhị] Nhân Duyên, chuyên chở chúng sanh vượt khỏi Tứ Không[32][32], ở nhà tịch tĩnh, thành Bích Chi Phật, ví như xe nai.

3) Đại Thừa Bồ Tát, tức là pháp môn Lục Độ, chuyên chở chúng sanh vượt thoát cảnh phàm phu, Tiểu Thừa, thẳng đến Vô Thượng Bồ Đề, bờ kia Đại Bát Niết Bàn, thành tựu Phật quả, ví như xe trâu.

Nay kinh này thuộc về Đại Thừa, do Như Lai nghĩ thương chúng sanh, Thế Chí nhiếp thọ người niệm Phật, khiến cho các thừa được yên vui, độ thoát chín cõi.

Ngũ Giáo là:

1) Tiểu Giáo: Chỉ nói về Nhân Không.

2) Thỉ Giáo: Chỉ luận về Pháp Không, còn gọi là Phần giáo vì chỉ nói đến pháp tướng.

3) Chung Giáo: Do nói về Trung Đạo, còn gọi là Thật Giáo, thường giảng nói nhiều về pháp tánh.

4) Ðốn Giáo: Chỉ luận về chân tánh.

5)Viên giáo: Chỉ nói về pháp giới.

Nay kinh này thuộc về ba giáo sau. Trong đoạn sau của chương kinh này có câu: “Hai người nhớ nhau, hai cái nhớ ấy càng sâu, mẹ con trải qua nhiều đời chẳng cách xa nhau”, đấy chính là Chung Giáo do kể từ lúc niệm dần dần cho đến khi cuối cùng trở thành Phật. Tiếp đấy, kinh lại dạy: “Dùng tâm niệm Phật để nhập Vô Sanh Nhẫn, chẳng cần đến phương tiện”, đấy chính là Đốn Giáo do biết Phật chính là tâm, mau thành Phật đạo! Trong kinh này lại dạy: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm nối tiếp, đắc tam-ma-địa”, đấy chính là Viên Giáo do biết rõ ba thứ này không sai biệt thì pháp giới viên thông. Dựa theo đó sẽ biết giáo nghĩa kinh này sâu rộng, u viễn, chẳng phải là thiển cận!

 

2.3. Tông thú

 

          Sớ: Ba là tông thú chỉ quy, có Tổng, có Biệt.

Tổng là lấy “nhớ Phật, niệm Phật” làm Tông, “thấy Phật, nhập Nhẫn, tân cảnh viên thông” làm Thú.

Biệt gồm năm cặp:

1) Giáo nghĩa: Lấy giáo thuyết làm Tông, lấy “khiến cho người nghe thấu đạt ý nghĩa” làm Thú.

2) Sự lý: Lấy nêu sự tướng làm Tông, giảng rõ lý làm Thú.

3) Cảnh trí: Lấy ba Phật cảnh làm Tông, lấy hai quán trí làm Thú.

4) Hạnh vị: Lấy Tín, Hạnh, Nguyện làm Tông, lấy nhập Bất Thoái làm Thú.

5) Nhân, quả: Lấy nhân và hạnh làm Tông, lấy chứng đắc quả đức làm Thú.

 

          Sao: Chữ “ba là” dùng để dẫn khởi nhằm giảng giải tông chỉ và chỗ quy thú. Ðiều được kinh này đề xướng thì gọi là Tông, chỗ hướng đến của Tông thì gọi là Thú. Nếu chẳng nhận biết Tông thì biết quy hướng về đâu?

Từ chữ “có Tổng” trở đi là phần giải thích ý nghĩa:

1) “Giáo thuyết” chính là pháp môn Niệm Phật. “Thấu đạt ý nghĩa” là hiểu thông suốt tâm cảnh duyên niệm đã được giảng nói trong giáo pháp, tức là [hiểu thấu đạt] những nghĩa như sự cảm ứng giữa chúng sanh và Phật, nhiễm mùi thơm, chứng nhập Nhẫn, tự, tha, sanh (sanh về cõi Cực Lạc), độ (cõi nước) vậy.

2) “Sự lý” trọn đủ các ý nghĩa, tức là đề cao các chuyện thuộc về mặt Sự như niệm Phật v.v… nhằm ý gì? Chính là vì muốn tỏ rõ lý tột cùng “tự tánh Di Ðà, duy tâm Tịnh Độ” vậy.

3) “Cảnh trí” là những điều được chia chẻ dựa theo mặt Lý. Cảnh chính là cái lý được quán. Trí chính là cái tâm dùng để quán sát [lý ấy]. Ba thân viên dung (Pháp Thân, Báo Thân, Hóa Thân) của Phật (lời Sớ gọi là “ba Phật cảnh”) là chân cảnh. Sự nhất tâm và Lý nhất tâm (lời Sớ gọi là “hai quán trí”) là chân quán.

4) “Hạnh vị” thuận theo trí mà khởi. Tín - Hạnh - Nguyện là ba món tư lương. Bất Thoái là tin Tịnh Độ thoát lìa tam giới, đấy chính là Vị Bất Thoái. Nguyện thấy Phật, niệm cái tâm của Phật, đấy là Niệm Bất Thoái. Hành tịnh nghiệp, nhiếp thọ người niệm Phật, đấy là Hạnh Bất Thoái.

Thêm nữa, tin vào lời dạy của Hóa Phật, vượt khỏi phàm phu, ngoại đạo, đấy là Tín Bất Thoái. Nguyện đắc quả như Báo Thân Phật, vượt khỏi cảnh Nhị Thừa, đấy là Niệm Bất Thoái. Hạnh noi theo Phật lý, vượt khỏi sự tu chứng của địa vị Quyền Giáo, đấy là Hạnh Bất Thoái. Khởi Tín Sớ giảng: “Nói đại lược thì có ba phẩm vị. Một là tín hạnh (những hạnh thuộc địa vị Thập Tín) chưa trọn, chưa thể gọi là Bất Thoái, chỉ vì ở nơi chẳng có duyên gây lui sụt nên gọi Bất Thoái. Hai là tín hạnh đã xong, nhập địa vị Thập Trụ, được thấy Pháp Thân, trụ trong Chánh Định, nên gọi là Bất Thoái. Ba là đã mãn địa vị Tam Hiền[33][33], đã nhập Sơ Địa, chứng Pháp Thân trọn khắp, sanh trong vô biên cõi Phật, nên gọi là Bất Thoái”. Do Tín nên trở thành Tín Bất Thoái. Do Nguyện nên trở thành Trụ Bất Thoái. Do Hạnh nên thành Vị Bất Thoái.

Du Già Sư Địa Luận giảng: “[Thập] Trụ là Chứng Bất Thoái. [Thập] Hạnh là Vị Bất Thoái. [Thập Hồi] Hướng là Hành Bất Thoái. [Thập] Ðịa là Niệm Bất Thoái”. Do Tín nên thành Chứng và Vị [Bất Thoái], do Hạnh nên thành Hạnh Bất Thoái. Do Nguyện nên thành Niệm Bất Thoái.

5) “Nhân quả” là do Bất Thoái mà thành. Nếu nhân chẳng lui sụt thì gọi là Chân Nhân (nhân chân thật). Quả nếu chẳng lui sụt thì gọi là Chân Quả. Tín nguyện cõi Phật, thâu nhiếp các căn, tịnh niệm, chính là nhân hạnh để không bị lui sụt Bồ Đề. Đắc tam-ma-địa, viên thông bậc nhất chính là chẳng lui sụt nơi quả đức Bồ Đề vậy.

Kinh văn của chương Thế Chí Niệm Phật Viên Thông này gồm ba tầng:

1) Nhớ nghĩ đức Phật là nhân, trong hiện tại, tương lai sẽ thấy Phật là quả.

2) Do niệm mà thấy được thân cận Phật là nhân, tâm khai mở, được Hương Quang Trang Nghiêm là quả.

3) Do niệm tâm nên chứng nhập Nhẫn là nhân, nhiếp thọ người [niệm Phật] hướng về Tịnh Độ là quả.

Năm cặp nhân quả như thế, lần lượt làm nhân cho nhau để sanh khởi.

 

2.4. Thích đề mục (giải thích tựa đề kinh)

        

Sớ: Bốn là giải thích tựa đề, có bốn cặp ý nghĩa:

1. Ý nghĩa Tổng và Biệt, nghĩa là: Ba chữ Lăng Nghiêm Kinh chính là tổng xưng vì nói tới trọn bộ kinh vậy. Bảy chữ “Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương” là danh hiệu riêng, vì chỉ hạn cuộc trong một chương này mà thôi!

2. Giáo nghĩa: Trong phần Biệt Xưng (danh xưng riêng) đã nói trên đây, phân ra thành hai loại giáo nghĩa, tức là: Một chữ Chương chính là giáo pháp nhằm giảng dạy, còn sáu chữ “Thế Chí Niệm Phật Viên Thông” chính là nghĩa được giảng bởi giáo pháp ấy.

3. Quả nhân: Trong nghĩa trên đây, lại tách ra một cặp ý nghĩa như sau: Viên Thông là quả, là cảnh được chứng, Thế Chí Niệm Phật là nhân, vì đấy là chủ thể tu quán.

4. Nhân, pháp: Trong phần nhân vừa được nói ở trên đây, lại chia ra thành một cặp ý nghĩa như sau: Niệm Phật là pháp, tức là pháp được nhận lãnh. Thế Chí là người, tức là người có thể hoằng truyền [pháp ấy].

Căn cứ vào bốn cặp nghĩa này để đặt tên cho chương này vậy.

 

Sao: Chữ “bốn là’ là chữ để giới thiệu ý nghĩa. Từ chữ “có bốn cặp” trở đi là phần giải nghĩa, câu này dùng để liệt kê [các ý nghĩa]. Câu “một là” để giải thích.

Trong phần Tổng Xưng (tên gọi chung của toàn bộ kinh này) cũng có một cặp ý nghĩa. Lăng Nghiêm là nghĩa hạn cuộc, còn chữ Kinh là giáo pháp, là nghĩa chung; nay chẳng trình bày những nghĩa ấy vì sợ rườm rà. Chương thuộc về chủ thể giảng nói (năng thuyên), nghĩa là: Chương là văn tự viên thông, chương kinh này dạy về pháp Niệm Phật, thuộc về cặp ý nghĩa “quả nhân” mà cũng có thể nói là thuộc về cặp ý nghĩa “cảnh trí” [như trong phần Sớ đã phán định]. Viên Thông là Cảnh, Niệm Phật là Trí; mà cũng có thể phán định là Chân - Tục, Lý - Sự, Tánh - Tu, thuộc về cặp ý nghĩa Tịch Hạnh. Viên Thông là Lý tánh của Chân, vốn lặng lẽ. Thế Chí Niệm Phật là Tục, thuộc về chuyện tu hành trên mặt Sự.

Từ chữ “bốn là” trở đi, trong pháp Niệm Phật nếu niệm Biến Hóa Phật chứ không phải là niệm Thọ Dụng Phật (tức là niệm Hóa Phật) thì là Tiểu Giáo. Niệm Thọ Dụng Phật chứ không niệm Biến Hóa Phật (tức niệm Báo Thân của đức Phật trong tự tâm) thì là Chung Giáo. Niệm cả thân Biến Hóa lẫn thân Thọ Dụng (tức là niệm Năng Báo) thì là Thỉ Giáo. Niệm chẳng phải Thọ Dụng, chẳng phải Biến Hóa Phật (tức là niệm Pháp Thân) thì là Đốn Giáo. Niệm viên thông vô chướng ngại Phật (tức là niệm trọn đủ mười thân của Phật[34][34]) thì là Viên Giáo.

“Thế Chí là người”: Hễ đắc Ứng Hóa Phật lực thì là Thế Chí trong Tiểu Giáo, đắc Công Đức Phật lực thì là Thế Chí trong Thỉ Giáo, đắc Trí Huệ Phật lực thì là Thế Chí trong Chung Giáo (hai loại này thuộc về Báo Thân Phật) đắc Như Như Phật lực (Pháp Thân Phật) là Thế Chí trong Đốn Giáo, đắc vô tận Phật lực (mười thân Phật) là Thế Chí trong Viên Giáo.

Ở đây cũng chỉ là ước theo giáo để giải thích đại lược, trong những đoạn sau sẽ giải thích tường tận. Qua những điều trình bày trên đây, biết được rằng trong cái tên của kinh này đã nêu bày nhân (người) lẫn pháp, nhân lẫn quả cùng phô bày, lý tận, nghĩa trọn. Do vậy, đem cái tên ấy đặt ở đầu chương kinh này.

 

2.5. Giải thích kinh văn

 

          Gồm có ba phần:

          - Trình bày về Thể để nghĩa lý của kinh được minh bạch.

          - Phần thuật bày sở chứng [của Đại Thế Chí Bồ Tát]

          - Kết luận để đáp câu hỏi về pháp Viên Thông.

 

2.5.1. Trình bày về Thể để nghĩa lý của kinh được minh bạch

 

Chánh kinh: Đại Thế Chí pháp vương tử dữ kỳ đồng luân ngũ thập nhị Bồ Tát, tức tùng tòa khởi, đảnh lễ Phật túc, nhi bạch Phật ngôn.

(Ðại Thế Chí pháp vương tử, cùng với những người cùng hàng với ngài gồm năm mươi hai vị Bồ Tát liền từ tòa ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, bạch Phật rằng)

 

          Sớ: Tiếng Phạn là Ma Ha Na Bát (Mahā-sthāma-prāpta), ở cõi này (Trung Hoa) dịch là Ðại Thế Chí. Kinh Tư Ích[35][35] chép: “Chỗ tôi đặt chân xuống, chấn động tam thiên đại thiên thế giới và cung điện của Ma, nên tên là Ðại Thế Chí”. Quán kinh cho biết: “Lúc vị Bồ Tát này đi, hết thảy mọi thứ trong mười phương thế giới đều chấn động. Lúc Bồ Tát này ngồi, cõi nước bảy báu cùng lúc lay động. Ngài còn có tên là Ðắc Ðại Thế Chí”. Kinh Bi Hoa chép: “Nguyện thế giới của tôi giống như thế giới của Quán Thế Âm chẳng sai khác”. Bảo Tạng Phật[36][36] nói: “Do nguyện của ông nhận lấy khắp cả cõi đại thiên, nay ta sẽ đặt tên cho ông là Ðắc Ðại Thế, cũng gọi là Vô Biên Quang”. Quán kinh chép: “Dùng trí huệ quang chiếu khắp hết thảy, khiến cho chúng sanh lìa tam đồ, được sức vô thượng”.

Nếu dựa theo bản kinh Lăng Nghiêm này thì Ngài có thể niệm vị Phật có thế lực lớn lao, có thể nhiếp phục vọng niệm nơi sáu căn, có thể tiếp độ người niệm Phật, cho nên có tên là Thế Chí vậy. Nhờ vào vị Bồ Tát này phát khởi để biểu thị ý: Pháp môn Niệm Phật có thể phát sanh trí quang, đạt được thế lực lớn lao, lìa khỏi sự khổ trong ba cõi, đạt được sự vui sướng nơi Tịnh Độ.

Do tự tại đối với pháp nên gọi là “pháp vương”. Từ pháp hóa sanh thì gọi là “tử” (con). Kinh Bi Hoa chép: “Trong cái nhân thuở quá khứ, lúc Phật Di Ðà làm Luân Vương, Quán Âm là con trưởng, Thế Chí là con thứ. Nay tại Cực Lạc, [Quán Âm và Thế Chí] ở hai bên đức Phật, giúp Ngài giáo hóa hết thảy. Rồi sẽ kế vị làm Phật nên gọi là Pháp Vương Tử”.

“Dữ” (cùng) nghĩa là chung với. “Luân” là loại (cùng loại, giống nhau). Thanh khí tương ứng nên gọi là “đồng loại”

“Ngũ thập nhị” (năm mươi hai) là con số nhằm biểu thị một môn Niệm Phật của ngài Thế Chí có phạm vi nhiếp hóa năm mươi hai địa vị thuộc các pháp hạnh như Thập Tín v.v...

“Bồ Tát” nói đủ là Bồ Đề Tát Đỏa. Ngài Tăng Triệu giảng: “Bồ Đề là tên của Phật đạo, Tát Đỏa dịch sang tiếng Hán là Đại Tâm Chúng Sanh. Có cái tâm lớn lao để nhập Phật đạo nên gọi là Bồ Đề Tát Đỏa”. Ngài Hiền Ðạo giảng: “Cõi này dịch Bồ Đề là Giác, còn Tát Đỏa được cõi này dịch là Chúng Sanh. Do trên là dùng Trí để cầu Bồ Đề, dưới là dùng Bi để cứu chúng sanh, nên gọi Bồ Đề Tát Đỏa”.

“Tùng tòa khởi” (Từ tòa ngồi đứng dậy): Tôn ty thầy trò, danh phận theo thứ tự. Hễ có việc thưa bày, chẳng nên ngồi nói.

“Ðảnh lễ Phật túc” (đảnh lễ dưới chân Phật): Dùng đỉnh đầu lễ sát dưới chân Phật nhằm tỏ lòng thành kính tới hết mức. Những điều trên đây (tức từ tòa ngồi đứng dậy và đảnh lễ dưới chân Phật) đều là thân nghiệp.

“Bạch Phật”: Người trên nói thì gọi là Cáo (bảo ban), người dưới thưa thì gọi là Bạch. Đây là khẩu nghiệp.

Thân và khẩu cung kính thì sẽ biết ý nghiệp [đương nhiên phải cung kính].

 

          Sao: Từ chữ “tiếng Phạn” trở đi là lời giải thích về tên người.

1) Trước hết, trong phần giảng về danh hiệu của ngài Thế Chí thì:

- Đầu tiên, trong phần xét theo mặt Hạnh thì lời Sớ đã luận về phương diện tu tự hạnh của ngài Thế Chí. Do có oai thế của Trí Đoạn[37][37] nên có thể chấn động hết thảy.

- Từ chữ “còn có tên ” trở đi là ý kế tiếp: Xét theo mặt Nguyện, đức Thế Chí trên cầu Phật đạo. Do có thế lực của tưởng niệm nên có thể giữ lấy, chứng đắc Tịnh Độ.

- Từ chữ “cũng gọi là Vô Biên Quang” trở đi, là ý thứ ba: Xét theo mặt Bi, ngài Thế Chí dưới độ chúng sanh. Do có thế lực hóa độ, dẫn dắt, nên Ngài có thể cứu bạt tam đồ. Hai ý đầu là tự lợi, còn ý này là lợi người.

“Nếu y vào bổn kinh này”: Trên đây đã dựa theo các kinh để giải thích danh hiệu của Thế Chí Bồ Tát, còn đến đây chỉ hạn cuộc trong kinh này (tức kinh Lăng Nghiêm) để giải thích. Ba câu từ chữ “có thể niệm” trở đi (tức “có thể niệm vị Phật có thế lực lớn lao, có thể nhiếp phục vọng niệm nơi sáu căn, có thể tiếp độ người niệm Phật”) cũng ước theo ba nghĩa “trên cầu, giữa tu, dưới độ” để giải thích:

- Từ ngữ “đại thế Phật” (vị Phật có thế lực lớn lao) chỉ Phật Di Ðà. Trong thập phương tam thế Phật, Phật Di Ðà là bậc nhất.

- “Có thể niệm”: Chẳng giống như chúng sanh chẳng cầu đại thế Phật và đoạn pháp khổ.

- “Có thể nhiếp”: Chẳng giống như chúng sanh sáu căn nắm níu sáu trần.

- “Có thể tiếp độ”: Chẳng giống như chúng sanh tự lợi, chẳng thể chịu nhọc nhằn thay cho người khác.

Do có ba đức lớn lao như thế ấy nên oai thế đạt đến mức cùng cực. Bồ Tát danh xứng với Thật, chúng sanh không cách nào biết được nổi!

2) Từ chữ “do tự tại đối với pháp” trở đi là ý kế tiếp [nhằm giải thích từ ngữ] “pháp vương tử”:

- Do tự tại nên gọi là Vương, vì vua có nghĩa là tự tại.

- Nghĩa kế tiếp là Ngài sẽ kế vị làm Phật. Trong cõi ấy (tức cõi Cực Lạc), sau Phật Di Ðà, Quán Âm sẽ nối ngôi. Sau Quán Âm, ngài Thế Chí sẽ nối ngôi. Ví như Thái Tử, tạm ở Ðông Cung, sau này ắt sẽ xoay mặt về hướng Nam[38][38], nối ngôi vua vậy.

          3) Từ chữ “dữ” trở đi, là ý thứ ba. “Dữ kỳ đồng luân” (Cùng với những vị có cùng hạnh với Ngài). Kinh Dịch có câu: “Ðồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nên nói “thanh khí tương ứng”. Nếu dựa theo kinh Hoa Nghiêm thì do có tám mươi bốn thứ giống nhau nên gọi là “đồng loại” như đã chép trong quyển bảy mươi ba (bắt đầu là Niệm, Huệ, Thú, Giác, cho đến cuối cùng là Bất Hư, Xuất Ly). Do vậy, ở đây chẳng sao lục chi tiết! Ðạo chẳng đồng thì chẳng thể cùng bàn tính với nhau. Người đồng tâm nói với nhau, thơm tho như hoa lan, cho nên mới bảo là “dữ kỳ đồng luân” (cùng với những người cùng hạnh).

4) Từ chữ “năm mươi hai” trở đi là ý thứ tư, luận về năm mươi hai địa vị:

- Tin “Phật là tâm”, tin “tâm làm Phật” là hạnh thuộc về pháp Thập Tín.

- Trụ trong tam-muội để quán Thật Tướng của Phật là hạnh thuộc về pháp Thập Trụ.

- Tu hành hạnh Niệm Phật, độ người niệm Phật là hạnh thuộc về pháp Thập Hạnh.

- Xoay trở lại niệm đức Phật trong tâm, hướng về tâm của Phật để trụ thì chính là hạnh thuộc về pháp Thập Hướng (Thập Hồi Hướng).

- Tâm địa quán Phật, địa vị giống như địa vị Phật là hạnh thuộc về pháp Thập Địa.

- Nhớ Phật, niệm Phật, cách Phật chẳng xa chính là hạnh thuộc về pháp Đẳng Giác.

- Lúc tâm tưởng Phật, tâm này chính là Phật thì chính là hạnh thuộc về pháp Diệu Giác.

Do vậy, biết rằng: Để siêu phàm nhập thánh, chỉ có pháp Niệm Phật là mầu nhiệm mà thôi!

5) Từ chữ “Bồ Tát” trở đi là ý thứ năm: Giải thích ý nghĩa của chữ Bồ Tát:

- Nghĩa đầu tiên là ước theo tâm để giải thích, tức là nếu có thể nhớ Phật như thế sẽ liền thành đại đạo tâm chúng sanh, nên gọi là Bồ Tát.

- Nghĩa kế tiếp là ước theo cảnh để giải thích, tức là dùng cái tâm niệm Phật để trên cầu sự giác ngộ của Phật, dưới hóa độ hữu tình thì gọi là Bồ Tát.

6) Từ câu “Từ tòa ngồi đứng dậy” trở đi là lời giải thích về sự lễ kính, ý nghĩa dễ nhận biết. Nói cách khác, nếu ý chẳng cung kính thì thân chẳng rời chỗ, miệng chẳng thốt lời. Dùng thân để lễ, dùng miệng để bạch đều do ý làm chủ. Cho nên tam nghiệp đều phải cung kính, nhằm hiển thị: Niệm Phật là pháp hy hữu, hết thảy thế gian khó tin tưởng vậy.

 

2.5.2. Phần thuật bày sở chứng [của Đại Thế Chí Bồ Tát]

 

Gồm hai phần:

          - Trước hết, dẫn bày rõ ràng sự giáo hóa của cổ Phật.

          - Kế đó, lược thuật sự tu hành của chính mình.

 

2.5.2.1. Dẫn bày rõ ràng sự giáo hóa của cổ Phật.

 

          Gồm hai phần:

- Trước hết, kể rõ tên chư Phật xuất thế

- Tiếp đấy, thuật bày lời dạy dỗ riêng biệt.

 

2.5.2.1.1. Kể rõ tên chư Phật xuất thế

 

Chánh kinh:

Ngã ức vãng tích hằng hà sa kiếp, hữu Phật xuất thế, danh Vô Lượng Quang, thập nhị Như Lai tương kế nhất kiếp. Kỳ tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt Quang.

(Con nhớ trong hằng hà sa kiếp xưa kia, có đức Phật xuất thế tên là Vô Lượng Quang. Mười hai vị Như Lai liên tiếp [xuất hiện] trong cùng một kiếp. Vị Phật cuối cùng tên là Siêu Nhật Nguyệt Quang).

 

Sớ: Chữ “Ngã” chỉ cho Pháp Thân, chẳng giống với “Ngã” trong cách so đo của phàm tình. Nhớ rõ ràng chẳng quên gọi là “Ức”. Quá khứ thì gọi là “vãng tích”. “Hằng hà sa kiếp” là ước theo số cát trong sông Hằng để tính số kiếp, minh thị thời gian đã rất lâu xa vậy.

Chữ Phật Đà (Buddha) trong tiếng Phạn cõi này dịch là Giác Giả, giác ngộ cho kẻ chưa giác, nêu ra đại lược ba nghĩa:

1) Tự mình giác ngộ Ngã Không, do nghĩa này nên Phật khác với phàm phu, ngoại đạo.

2) Làm cho người giác ngộ Pháp Không (các pháp là Không), do nghĩa này nên Phật khác với Nhị Thừa.

3) Ba là giác mãn đều không, do nghĩa này nên Phật khác với Bồ Tát.

“Xuất thế”: Không hợp với căn cơ bèn chẳng hiện, hễ căn cơ thuần thục liền hiện.

“Như Lai’: Từ Chân Như khởi đến thành Chánh Giác.

“Mười hai”: Theo kinh Ðại Di Ðà (kinh Vô Lượng Thọ), danh hiệu của mười hai vị Phật là Vô Lượng Quang Phật, Vô Biên Quang Phật, Vô Ngại Quang Phật, Vô Ðối Quang Phật, Viêm Vương Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật, Hoan Hỷ Quang Phật, Trí Huệ Quang Phật, Bất Ðoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật, Vô Xứng Quang Phật, Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật.

Vô Lượng là Thật Trí chiếu Lý chẳng có hạn lượng. Vô Biên là Quyền Trí chiếu Sự chẳng có ngằn mé. Vô Ngại là Từ quang ban vui không chướng ngại. Vô Đối là Bi quang dẹp khổ, không chi có thể chống cự được! Viêm Vương là quang minh lẫn âm thanh ứng hóa tự tại. Thanh Tịnh là trong sạch lìa cấu, tỏa quang minh. Hoan Hỷ là khiến cho người thọ dụng sanh lòng vui mừng lớn lao. Trí Huệ là dùng đại trí huệ để phá các Hoặc (phiền não). Bất Đoạn là ánh sáng thường còn, chẳng đoạn dứt. Nan Tư là bổn quang chẳng thể nghĩ bàn được! Vô Xứng: Tỏa ra trăm ánh sáng báu chẳng thể nêu kể được. Siêu Nhật Nguyệt Quang là phóng hết thảy ánh sáng, vượt trỗi mặt trời, mặt trăng. Mười hai vị danh hiệu này đều có chữ Quang vì trong khi tu nhân, do niệm Bổn Giác Phật mà tâm quang được tỏa rạng. Xét đến khi chứng quả, trở thành Diệu Giác Phật liền hiện khởi thân quang (quang minh nơi thân) vậy.

“Thập nhị Như Lai tương kế nhất kiếp” (Mười hai vị Như Lai liên tiếp [xuất hiện] trong cùng một kiếp):

1) Ước theo năng niệm (chủ thể niệm Phật) thì điều này nhằm biểu thị cái hạnh. Trong mười hai thời, tịnh niệm nối tiếp nghĩ nhớ đức Phật trong tự tánh Phật, tạo thành một phiến, chẳng để cho cái tâm nghĩ tới Ngũ Dục của thế gian dẫu chỉ trong khoảng khảy ngón tay thì vô lượng tánh quang tự nhiên tỏa rạng.

2) Nếu luận theo sở đắc thì điều này biểu thị sự chuyển được mười hai loại chúng sanh thành mười hai thánh vị, chuyển mười hai Xứ của vọng tưởng thành mười hai Xứ nơi Phật đức (phẩm đức của Phật).

Nhưng mười hai đức Phật ấy là cổ Như Lai, chứ chẳng phải là Di Ðà ngày nay, mà danh hiệu của họ giống với [các danh hiệu khác của] A Di Ðà Phật là do thầy trò cùng một đạo, xưa nay chẳng khác, giống như Thích Ca, Quán Âm vậy.

 

Sao: Từ chữ “Ngã” trở đi, gồm hai câu giải thích. Ngã có bốn thứ:

1. Cái Ngã tà vạy chấp vào kiến giải.

2. Cái Ngã ta-người kiêu mạn.

3. Cái Ngã giả dối chỉ tồn tại trên danh tự.

4. Cái Ngã chân thật, tức Pháp Thân.

Người đời có đủ cả hai cái Ngã tà vạy và kiêu mạn. Người học đạo có những cái Ngã tà mạn, giả dối, còn thánh nhân chỉ có Ngã giả dối và cái Ngã chân thật. Nay ngài Thế Chí là bậc Pháp Thân đại sĩ, chẳng giống như Tam Thừa nên chỉ là Chân Ngã.

“Hằng hà” còn gọi là sông Căng Già (Gange), cõi này dịch nghĩa là Thiên Đường Lai (từ cõi trời đổ xuống) do sông từ trên cao đổ xuống, từ ao Vô Nhiệt Não[39][39] chảy ra, rộng bốn mươi dặm, cát mịn như bột mì. Đức Phật thuyết pháp ở Kỳ Viên, do giảng đường gần bên sông nên hễ nói tới điều gì nhiều, Ngài thường lấy đó làm thí dụ.

“Kiếp”, tiếng Phạn là Kiếp-ba (kalpa), cõi này dịch là “phân biệt thời phần”. Câu Xá Luận giảng: “Phần cực nhỏ của thời gian gọi là sát-na, thời gian cực dài gọi là Kiếp”. Nay lấy cát để ví dụ Kiếp thì dễ thấy là rất dài lâu.

Từ “chữ Phật Đà trong tiếng Phạn” trở đi, gồm sáu câu, [trong ấy] Thỉ Giác và Bổn Giác[40][40] hợp nhất thì gọi là “giác mãn”. Ngã lẫn pháp đều hết sạch nên bảo là “đều không”.

Từ chữ “Ðại Di Ðà” trở đi là phần trích dẫn kinh [Vô Lượng Thọ]. Từ chữ “vô lượng” trở đi là giải thích ý nghĩa [của mười hai danh hiệu]. Danh hiệu chư Phật dùng những ý nghĩa hoặc thí dụ để nêu sự chứng đắc của từng vị Phật chẳng giống nhau: Dùng nhân, hoặc quả, hoặc tánh, hoặc tướng, hoặc bi trí, hoặc nguyện hạnh [để lập danh hiệu]. Mười hai vị Phật này đều dùng Quang để xưng danh.

Quang vốn có hai thứ: Một là trí quang, hai là thân quang. Lại có hai nghĩa: Một là thường quang, hai là phóng quang. Lại có hai nhân: Một là công đức trang nghiêm, hai là bổn nguyện thành tựu. Nay giải thích danh hiệu của mười hai vị Phật, cũng ước theo sáu nghĩa ấy: Hai danh hiệu đầu dựa theo hai trí (tức Thật Trí và Quyền Trí), danh hiệu thứ ba, danh hiệu thứ tư là ước theo hai tâm (Từ và Bi), thuộc về hai nhân [vừa được nói trên đây]. Danh hiệu thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, thứ tám, ước theo bốn thân: Danh hiệu thứ năm là Hóa Phật, danh hiệu thứ sáu là Pháp Thân, danh hiệu thứ bảy là Tha Thọ Dụng Thân, danh hiệu thứ tám là Tự Thọ Dụng thân. Tức là như trong kinh Lăng Già [gọi bốn thân này bằng các từ ngữ] Ứng Hóa Phật, Như Như Phật, Công Đức Phật, và Trí Huệ Phật. Danh hiệu thứ chín và thứ mười là thường quang. Danh hiệu thứ mười một và mười hai là phóng quang.

Câu “đức Phật trong tự tánh” ngụ ý: Niệm đức Phật ngay trong tự tánh. “Chẳng để cho cái tâm nghĩ tới ngũ dục của thế gian” là như Quán kinh đã dạy: “Phàm niệm Phật thì chẳng được trong khoảng khảy ngón tay nghĩ tới ngũ dục trong cõi đời”. Câu này hàm ý sự hệ niệm. Nếu có thể vượt thoát [Ngũ Dục] được như thế, không một chút gián đoạn xen tạp nào thì vô lượng Phật quang nơi tự tánh sẽ tỏa rạng hoàn toàn, vượt trỗi cả mặt trời, mặt trăng.

“Mười hai loài chúng sanh” chính là Thai Sanh (sanh bằng thai), Noãn Sanh (sanh bằng trứng), Thấp Sanh (sanh nơi ẩm ướt), Hóa Sanh (sanh bằng sự biến hóa, như chư Thiên, địa ngục), có hình sắc (chư thiên thuộc Sắc Giới), không hình sắc (chư Thiên thuộc Vô Sắc Giới), có tâm tưởng, không tâm tưởng, chẳng phải có sắc, chẳng phải vô sắc, chẳng phải có tưởng, chẳng phải vô tưởng.

“Mười hai thánh vị” là Càn, Tín, Trụ, Hạnh, Hướng, Noãn, Đảnh, Nhẫn, Thế, Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác. “Vô tiệm vị” là như kinh dạy: Từ đây tiệm tu (tu dần dần) tùy theo hạnh đã phát mà an lập thánh vị như trong quyển bảy và tám của kinh Lăng Nghiêm đã giảng rõ.

“Mười hai vọng tưởng” là vọng tưởng nơi sáu Căn và sáu Trần. Kinh dạy: “Sáu thứ vọng tưởng rối loạn biến thành nghiệp tánh nên do đây mà lần lượt phân chia thành mười hai thứ”. Vì thế, [sáu trần là] Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp trong thế gian biến thành mười hai thứ, đến cùng tận lại biến chuyển trở lại từ đầu.

“Mười hai đức tánh của Phật” chính là công đức của sáu Căn và sáu Trần. Kinh dạy: “Tổng quát từ đầu đến cuối, trong sáu Căn mỗi một Căn đều có công đức, mỗi Căn có một ngàn hai trăm công đức” như quyển thứ tư và quyển thứ bảy của kinh Lăng Nghiêm đã giảng rõ.

Từ chữ “nhưng mười hai đức Phật” trở đi nhằm giải quyết sự chất vấn. Nếu có ai vặn rằng: “Theo như kinh Ðại Bổn (Vô Lượng Thọ) thì mười hai danh hiệu Phật ấy chính là những danh hiệu khác của Vô Lượng Thọ Phật, chỉ có một thân Phật, sao ở đây lại nói có mười hai đức Phật nối tiếp nhau xuất thế?” Cho nên ở đây phải đáp rằng: Chư Phật trùng tên rất nhiều. Do vậy, mười hai đức Phật ở đây là chư Phật trong quá khứ, chứ chẳng phải là vị Phật do ngài Pháp Tạng tu thành trong hiện tại. [Người ta lại vặn tiếp]: Nếu như thế, vì sao gì tên hiện nay lại lạm dùng danh hiệu của cổ Phật vậy? Vì thế, lại phải giải thích như sau: Di Ðà, Thế Chí phát tâm cùng một lúc, đức Phật được hai vị tôn làm thầy cũng cùng là một vị, chẳng khác nhau. Mười hai biệt hiệu hiện thời của Phật Di Ðà giống với danh hiệu [của mười hai vị] cổ Phật nhằm biểu thị rõ ràng: Thầy trò truyền thừa cái đạo “tâm chính là Phật, Phật chính là tâm” giống hệt như nhau. Ví như đức Thích Ca lập hiệu trong hiện tại là phỏng theo danh hiệu của đức cổ Phật Thích Ca. Tên ngài Quán Âm ngày nay cũng là phỏng theo cổ Phật Quán Âm. Vì vậy, kinh Ðại Bổn Di Ðà chép: “Qua vô lượng cõi Phật, những vị Phật có cùng tên là Thích Ca cũng chẳng thể đếm xuể!” Như vậy thì danh hiệu của Vô Lượng Thọ Phật có tới trăm ngàn vạn ức vị Phật chẳng thể cùng tận, há phải chỉ có một vị Phật ư?

 

2.5.2.1.2. Thuật bày lời dạy dỗ riêng biệt

 

Gồm hai tiểu đoạn:

- Nêu danh hiệu của pháp Viên Thông

- Giải thích ý nghĩa

 

2.5.2.1.2.1. Nêu danh hiệu của pháp Viên Thông:

 

Chánh kinh: Bỉ Phật giáo ngã Niệm Phật tam-muội.

(Các đức Phật ấy dạy con Niệm Phật tam-muội)

 

Sớ: “Bỉ Phật” (Các đức Phật ấy) là mười hai vị Phật. Dùng lời lẽ để chỉ bày thì gọi là “giáo” (dạy). Nói tới “niệm Phật” là nếu xét theo cách niệm trên mặt Sự thì: Tâm nhớ tưởng sẽ gọi là “niệm”; tam thân tiếp dẫn là Phật. Như vậy thì kẻ niệm là chính mình, đối tượng được niệm là Phật. Nếu xét theo cách niệm trên mặt Lý thì niệm chính là Thỉ Giác, Phật là Bổn Giác. Đem Thỉ hợp với Bổn thì gọi là “niệm Phật”.

Niệm Phật có bốn pháp:

1) Xưng danh, tức là nghe nói danh hiệu Phật, một lòng xưng niệm.

2) Quán tượng, tức là thiết lập tôn tượng, mắt nhìn chăm chú chiêm ngưỡng.

3) Quán tưởng, tức là dùng tâm nhãn của ta để quán tưởng đức Như Lai ấy.

4) Thật tướng, tức là niệm đức Phật trong tự tánh, trong chân thật tướng.

Pháp thứ nhất và thứ hai là Sự Pháp Giới Quán, do tâm chính là Phật vậy. Pháp thứ tư là Lý Pháp Giới Quán, bởi Phật chính là tâm. Pháp thứ ba là Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới Quán bởi “tâm này là Phật, Phật này là tâm” vậy.

Thêm nữa, ngài Thanh Lương nói: “Ước theo cái tâm để niệm thì chẳng ngoài năm thứ:

- Một là môn niệm Phật duyên tưởng cảnh giới.

- Hai là môn niệm Phật nhiếp cảnh duy tâm.

- Ba là môn niệm Phật tâm cảnh vô ngại.

- Bốn là môn niệm Phật tâm lẫn cảnh đều tuyệt diệt.

- Năm là môn niệm Phật các thứ vô tận”.

Nay phối hợp với ý tưởng này để nói thì môn thứ nhất gồm hai pháp đầu trong phần trên, tức là Tiểu Thừa Giáo. Môn thứ hai tức là pháp thứ tư vừa được nói trong đoạn trên, tức là Thỉ Giáo. Môn thứ ba tức là pháp thứ ba vừa được nói trong đoạn trên, tức là Chung Giáo. Không có pháp nào đã nói ở trên thuộc về môn thứ tư và thứ năm, tức là Đốn Giáo và Viên Giáo. Nay trong kinh văn này, ước theo lời Phật dạy thì pháp này (tức pháp Niệm Phật Viên Thông của Đại Thế Chí Bồ Tát) trọn đủ cả môn thứ tư và thứ năm. Ước theo căn cơ nhận lãnh thì chỉ hạn cục trong Trì Danh, nhưng pháp Trì Danh này lại bao gồm cả Viên lẫn Đốn, chứ không chỉ hạn cuộc trong Tiểu; [cho nên] cũng tách ra thành năm môn:

1) Môn trì niệm danh hiệu Phật: Do ở ngoài tâm có danh hiệu Phật, đấy chính là Tiểu Giáo, thuộc về Sự Pháp Giới Quán.

2) Môn thâu nhiếp danh hiệu quy về tâm: Danh hiệu Phật chỉ là do tâm hiện, cho nên môn này là Thỉ Giáo, thuộc về Lý Pháp Giới Quán.

3) Môn tâm và danh hiệu Phật đều dung thông: Vì tâm chính là Phật, Phật chính là tâm nên môn này thuộc về Chung Giáo.

4) Môn tâm lẫn danh hiệu đều tuyệt diệt: Vì chẳng phải là tâm, chẳng phải là Phật nên là Đốn Giáo, thuộc về Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới Quán.

5) Môn viên thông vô tận: Do tâm trong một niệm, một danh hiệu Phật dung chứa trọn pháp giới chẳng cùng tận nên là Viên Giáo, thuộc về Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới Quán.

Tiếng Phạn Tam-muội (Samādhi), cõi này dịch là Chánh Định, cũng dịch là Chánh Tư, Chánh Tâm Hành Xứ. Nhất tâm niệm Phật thì gọi là Chánh Định Tâm. Nếu nghĩ đến điều nào khác thì gọi là Tà Tư Duy. Tam-muội là tên chung của Thiền Quán. Niệm Phật là tên riêng của một hạnh. Pháp Niệm Phật tam-muội này còn gọi là Nhất Hạnh tam-muội, cũng gọi là Chư Phật Hiện Tiền tam-muội, Bát Nhã tam-muội, hay Phổ Đẳng tam-muội.

 

Sao: Từ chữ “nói tới niệm Phật”’ trở đi, lời Sớ giải thích hai chữ Niệm Phật. Từ chữ “Niệm Phật có bốn pháp” trở đi giảng rõ ràng về pháp môn Niệm Phật.

“Xưng danh” là như kinh Văn Thù Bát Nhã đã dạy: “Chúng sanh ngu độn chẳng thể hiểu được Quán, chỉ làm sao cho tiếng niệm Phật liên tục sẽ tự được vãng sanh”, kinh Di Ðà dạy: “Nghe nói A Di Ðà Phật, chấp trì danh hiệu”.

Pháp quán tượng gồm hai loại:

- Một là quán tướng hảo, quang minh của đức Phật hiện tại như kinh Pháp Hoa chép: “Ðứng dậy, chắp tay, nhất tâm quán Phật”.

- Hai là quán tượng Phật vẽ vời, khắc, đắp, tô đúc như vua Ưu Ðiền dùng Chiên Đàn làm tượng Phật vậy.

“Quán tưởng” là như Thập Lục Quán Kinh đã dạy: “Chư Phật Như Lai là pháp giới thân vào trong tâm tưởng hết thảy chúng sanh. Vì thế, lúc tâm tưởng Phật, tâm này chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp phụ”.

“Thật tướng” là như kinh Quán Phật Tam Muội chép: “Đức Phật bảo A Nan: Trụ nơi niệm Phật thì tâm ấn chẳng hoại”. Nghĩa là: Biết rõ đúng thật tự tâm thì gọi là niệm Phật. Như như bất động thì gọi là chẳng hoại. [Trong kinh Hoa Nghiêm] trưởng giả Giải Thoát[41][41] nói: “Ta muốn thấy A Di Ðà Phật trong Cực Lạc thế giới, tùy ý liền thấy” chính là nói về ý này.

Từ chữ “pháp thứ nhất, pháp thứ hai” trở đi là phân định bốn cách niệm Phật dựa theo từng pháp quán vậy. Nếu dựa trên sáu căn thì Xưng Danh thuộc về tai và lưỡi, Quán Tượng thuộc mắt và thân, Quán Tưởng thuộc mũi và ý, Thật Tướng gồm trọn sáu căn. Do vậy, một môn Niệm Phật tam-muội đối với sáu căn không căn nào chẳng thâu nhiếp.

Từ chữ “thêm nữa, ngài Thanh Lương” trở đi, dẫn lời cổ nhân để giảng rõ năm môn. “Duyên cảnh”: Xưng Danh lẫn Quán Tượng đều thuộc ngoại cảnh. “Duy tâm”: Tướng tốt của y báo lẫn chánh báo đều chỉ là do tâm tạo ra. “Vô ngại”: Chiếu soi cả Sự lẫn Lý. “Ðều tuyệt diệt”: Lìa tướng giống như hư không. “Vô tận”: Trong hết thảy thời, xứ, cảnh, niệm, thấy trọn khắp mười thân của Như Lai.

Từ chữ “nay phối hợp với ý tưởng này” trở đi là phối hợp cách giải thích của cổ đức với cách giải thích hiện thời. Hơn nữa, Ðại Sớ giảng: “Cổ nhân đã có năm môn:

1) Môn xưng danh vãng sanh niệm Phật.

2) Môn quán tượng diệt tội niệm Phật.

3) Môn nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật.

4) Môn tâm cảnh vô ngại niệm Phật.

5) Môn duyên khởi viên thông niệm Phật”.

Năm môn này tuy tên hay tuyệt, nhưng phần giải thích ý nghĩa chẳng trọn vẹn nên nay tôi thay đổi. Nếu muốn thấu hiểu cặn kẽ thì môn thứ nhất và môn thứ hai thuộc vào hai môn Duyên Cảnh, Vô Ngại, đồng thời cũng thuộc môn “đều tuyệt diệt” của ngài Thanh Lương. Môn [duyên khởi] viên thông [trong Đại Sớ] chính là môn [viên thông] vô tận [của ngài Thanh Lương]. Nói Tiểu Giáo v.v... là ước theo bốn pháp niệm Phật trong phần trước (tức Trì Danh, Quán Tưởng, Quán Tượng, Thật Tướng) để nói, đấy là căn cứ theo pháp Quán; còn năm môn này (tức xưng danh, quán tượng, nhiếp cảnh, tâm cảnh vô ngại và duyên khởi viên thông) là ước theo Giáo. Hai cách giải thích này soi rọi lẫn nhau, cứ suy ra sẽ biết.

Từ chữ “nay trong kinh văn này” trở đi chính là ước theo bốn cách niệm Phật và năm môn niệm Phật [như vừa mới nói trong phần trên] để phán định kinh này. “Lời Phật dạy” chính là lời dạy của mười hai vị Như Lai. “Bao gồm cả môn thứ tư và thứ năm” là như trong đoạn sau sẽ giải thích: Nhớ Phật, niệm Phật không thuộc riêng một môn nào. Từ ngữ “căn cơ nhận lãnh” chỉ ngài Thế Chí. “Hạn cục trong Trì Danh”: Trong phần kinh văn “Phật hỏi pháp Viên Thông” sẽ được giảng trong phần sau mới nói tới “tịnh niệm tiếp nối”, tức là nhằm chỉ ra pháp [của Đại Thế Chí Bồ Tát sẽ dạy trong chương kinh này là pháp] Trì Danh; do vậy mới hỏi: Vì sao ngài Thế Chí chẳng chỉ dạy chung các pháp Niệm Phật, [mà lại chỉ dạy riêng một pháp Trì Danh]?

Ðáp: Tuy Niệm Phật tam-muội được cổ đức gọi là đường tắt, nhưng pháp Trì Danh lại là con đường tắt nhất trong những đường tắt. Cớ sao? Bởi lẽ, Quán Tượng thì nếu bỏ tượng đi sẽ lại trở thành không [quán được], do vậy trở thành gián đoạn. Quán Tưởng thì tâm thô, cảnh tế, pháp Quán mầu nhiệm khó thành. Đối với Thật Tướng Niệm Phật thì chúng sanh chướng nặng, giải ngộ ít ỏi, đối với chỗ vô tận thì cảnh giới sâu rộng, làm sao gánh vác được? Chỉ có pháp Trì Danh này là giản tiện, nhanh chóng nhất. Chỉ cần niệm được liên tục liền có thể vãng sanh. Như ngựa Ký phi nước đại (chỉ các môn Niệm Phật khác) tuy bỏ xa các loài ngựa khác (tức các môn tu hành khác) vẫn chẳng bằng rồng bay (tức pháp Trì Danh Niệm Phật). Như chim hạc (tức các pháp Niệm Phật) bay bổng tuy đã vượt xa các loài chim tầm thường (tức các pháp môn khác), vẫn chẳng bằng đại bàng (tức pháp môn Trì Danh Niệm Phật) bay vút lên. Vì thế, ngài Long Thọ viết trong Tỳ Bà Sa Luận: “Phật pháp có vô lượng môn giống như đường đi trong thế gian có khó, có dễ. Ví như người thọt chân, đi đường bộ thì khổ sở, một ngày chẳng đi hơn vài dặm, nếu theo đường thủy ngồi thuyền thì vui vẻ, trong khoảnh khắc đã vượt ngàn dặm. Dễ đi mau đến, hãy nên niệm Phật, xưng danh hiệu Ngài là vì Phật đã có bổn nguyện như thế”.

Hỏi: Phật có vô lượng công đức, một danh hiệu khó thể bao gồm hết, huống chi Thật Tướng đã lìa tướng danh tự, sao lại chuyên xưng danh?

Ðáp: Đối với y báo, chánh báo của cõi Cực Lạc, hễ nói đến Phật liền trọn khắp. Đối với biển công đức của Phật, chỉ cần nêu danh hiệu đã trọn gồm. Kinh dạy: “Lời lẽ để ứng xử trong thế gian đều chẳng trái nghịch Thật Tướng”. Há lẽ nào vạn đức hồng danh chẳng chính là Thật Tướng hay sao?

Từ chữ “nhưng pháp Trì Danh này” trở đi, lời Sớ minh thị một lần nữa: Pháp Trì Danh bao quát giáo pháp Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa! Bất luận lợi căn hay độn căn đều có thể y theo pháp này để tu hành.

Từ ngữ “Chánh Định” hàm ý phân định: Ngoại trừ Niệm Phật ra, những thứ khác đều gọi là Tà Định.

“Chánh Tư”: Đối với cảnh được niệm, chánh trực suy xét. Chánh là chọn lựa, tìm cầu. Tư là suy nghĩ để phân biệt đâu là hôn trầm.

“Chánh Tâm Hành Xứ” chính là cảnh để tâm Chánh Định duyên vào, khác với cảnh được nhận lãnh tà vạy bởi vô minh. [Chánh Tâm Hành Xứ] còn gọi là Điều Trực Định. [Gọi là Điều Trực Định nhằm ngụ ý] do chúng sanh cong vạy tán loạn nên đức Phật dùng các môn tam-muội sửa cho ngay cái cong vạy, uốn nắn cho đúng cái tán loạn đó.

Nói “tên chung của Thiền Quán” là vì như trong Trí Ðộ Luận đã giảng: “Hết thảy Thiền Định nhiếp tâm đều gọi tam-muội”.

Có hai cách giải thích câu “tên riêng của một hạnh”:

1) Một là nói tới một hạnh trong vạn hạnh, như trong các kinh hoặc gọi Chân Như Hải Ấn Đức Tạng là tam-muội, hoặc coi Như Huyễn Ngữ Ngôn Pháp Giới là tam-muội, hoặc hiểu là hữu duyên, hữu tướng, vô đắc, vô tranh v.v...

2) Hai là chỉ Niệm Phật tam-muội. Kinh Văn Thù Bát Nhã chép: “Phật bảo Văn Thù: Muốn nhập Nhất Hạnh tam-muội, nên ở chốn thanh vắng, bỏ các loạn ý, chẳng giữ lấy tướng mạo, buộc tâm vào một vị Phật, chuyên xưng danh hiệu của Ngài, tùy theo Ngài ở phương vị nào bèn ngồi ngay ngắn hướng thẳng về đó. Nếu có thể đối với một đức Phật, niệm niệm tiếp nối thì ngay trong niệm ấy sẽ có thể thấy được quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật. Niệm công đức của một đức Phật chẳng khác gì niệm công đức của vô lượng chư Phật”. Nếu đắc Nhất Hạnh tam-muội thì đối với các pháp môn trong hết thảy các kinh đều hiểu rõ.

Hỏi: Ở đây dạy niệm Phật là niệm mười phương Phật hay là niệm A Di Ðà Phật?

Ðáp: Chỉ niệm A Di Ðà Phật. Do mười hai vị Như Lai có cùng tên với A Di Ðà Phật. Trong đoạn sau của chánh kinh có nói: “Nhiếp người niệm Phật, quy về Tịnh Độ”. Hơn nữa, ngài Phổ Quảng hỏi Phật: “Trong mười phương đều có cõi Phật, sao lại chỉ khen mình cõi Tây phương?” Phật dạy: “Người Diêm Phù Ðề tâm nhiều tán loạn, dạy họ chuyên tâm một cảnh họ sẽ được vãng sanh. Nếu niệm mười phương chư Phật, cảnh nhiều, tâm tán, tam-muội chẳng thành”. Huống chi, chư Phật có cùng một Pháp Thân, niệm một vị Phật tức là niệm hết thảy chư Phật vậy.

Hỏi: Vì sao mười hai đức Phật đều dạy ngài Thế Chí niệm danh hiệu của chính mình?

Ðáp: Một là do bổn nguyện của mười hai đức Như Lai là như thế. Như trong hiện tại, ngài Pháp Tạng nguyện rằng: “[Chúng sanh nào] nghe danh hiệu của tôi, dẫu chỉ mười niệm mà nếu chẳng được vãng sanh, sẽ chẳng giữ ngôi Chánh Giác”. Hai là dạy niệm danh hiệu của mười hai vị Phật chính là dạy niệm mười hai biệt hiệu của cổ Phật Di Ðà. Giống như nay Pháp Tạng dạy niệm Vô Lượng Thọ Phật tức là dạy niệm từ Vô Lượng Quang cho đến Siêu Nhật Nguyệt Quang.

Từ chữ “cũng gọi là” trở đi, lời sớ nêu các tên khác [của Niệm Phật tam-muội], ước theo ý nghĩa phối hợp với giáo [để đặt tên]. Niệm Phật là Tiểu Giáo. Bát Nhã là Thỉ Giáo. Phật Hiện là Chung Giáo, Nhất Hạnh là Đốn Giáo, Phổ Đẳng là Viên Giáo. Cứ theo đúng lý mà suy ra.

 

Lăng Nghiêm Kinh Thế Chí Niệm Phật Viên Thông Chương Sớ Sao,

Quyển Thượng hết

 

 

 

 


[1][1] Đại sư Tục Pháp (1641-1728) là cao tăng đời Thanh, người huyện Nhân Hòa (nay là Hàng Châu), tỉnh Chiết Giang, họ Trầm, pháp tự là Bách Đình, hiệu là Quán Đảnh. Ngài còn có tên là Thành Pháp. Năm lên chín tuổi xuất gia với ngài Minh Nguyên chùa Từ Vân ở núi Thiên Trúc, Hàng Châu. Mười chín tuổi thọ Cụ Túc Giới, hai mươi tuổi liền tập giảng kinh. Năm 27 tuổi, được ngài Minh Nguyên phó chúc trở thành pháp tôn đời thứ năm của Tổ Liên Trì Châu Hoằng. Sư nghiên cứu trọn khắp các kinh điển, dung hội mọi thuyết, chẳng câu nệ một pháp nào. Mỗi khi nhóm chúng thuyết pháp, thính chúng tụ tập đông nghẹt, cực thịnh một thời. Ngài lần lượt trụ trì các chùa Từ Vân, Sùng Thọ, Thượng Thiên Trúc. Các đệ tử truyền pháp như Bồi Phong, Từ Duệ, Chánh Trung, Thiên Hoài đều lừng danh. Ngài để lại các tác phẩm như Hiền Thủ Ngũ Giáo Nghi, Viên Giác Chiết Nghĩa Sớ, Hoa Nghiêm Tông Phật Tổ Truyện v.v… hơn sáu trăm quyển.

[2][2] Tứ Trọng (gọi đủ là Tứ Trọng Cấm Giới hoặc Tứ Trọng Tội, hay Tứ Ba La Di) là bốn trọng tội căn bản không được vi phạm, tức là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ. Ba La Di (pārājika) là một trong bảy tiểu loại Giới của luật tỳ-kheo hay tỳ-kheo-ni. Giới này còn được phiên là Ba La Thị Ca, Ba La Xa Dĩ Ca, dịch nghĩa là Cực Ác, Trọng Cấm, Đọa, Đoạn Đầu (đứt đầu), Vô Dư (không còn sót), Khí (vứt bỏ). Người tu hành phạm phải những giới cấm này sẽ không còn đủ tư cách là tăng sĩ nữa, phải bị trục xuất khỏi tăng đoàn, chết đọa địa ngục. Nội dung giới này xoay quanh Tứ Trọng như vừa nói trên đây.

[3][3] Tam Tai: ba tai nạn lớn khi thế giới sắp bước vào kiếp Hoại: Thủy Tai, Hỏa Tai và Phong Tai.

Bát nạn (Astāvaksanāh): Tám thứ chướng nạn gồm: Sanh trong địa ngục, sanh trong loài ngạ quỷ, đọa làm súc sanh, sanh trong chốn Biên Địa hoặc sanh vào châu Uất Đan Việt (trong châu này quá sướng, tuổi thọ quá dài, nên không có lòng mong muốn tu tập), tàn tật (đui, ngọng, câm, điếc), Thế Trí Biện Thông, và sanh trước Phật hay sau Phật. Nếu hiểu đặc biệt theo nghĩa thọ giới của Tăng sĩ (như trong Tứ Phần Luật đã quy định) thì tám nạn là tám thứ chướng nạn khiến tăng chúng không thể thọ giới, tụng giới hay Tự Tứ được tức là nạn vua, nạn giặc cướp, lụt lội, hỏa tai, bệnh tật, bị kẻ xấu quấy nhiễu, bị phi nhân ngăn trở, bị độc trùng ngăn trở.

[4][4] Sư dùng chữ “Tông Trí” trong nguyên văn. Trí là đạt đến, giống với ý nghĩa chữ Thú trong cách phán định Ngũ Trùng Huyền Nghĩa thông thường nên chúng tôi dùng chữ Thú cho giống với phần sau.

[5][5] Sớ: Lời giải thích chánh kinh gọi là Sớ, phần giải thích lời Sớ gọi là Sao.

[6][6] “Thể” là thể tánh (bản thể, bản chất). Thể tánh của một bản kinh được gọi là Giáo Thể, đôi khi còn gọi một cách tổng quát là Lý Thể. Theo pháp sư Bân Tông: “Lìa hết thảy các tướng thì gọi là Tánh; chỗ hết thảy các nghĩa quy về gọi là Lý. Nghĩa trọng yếu của các pháp gọi là Thể”. Phô bày minh bạch yếu chỉ của một bản kinh, nêu rõ chỗ quy hướng của các giáo nghĩa được dạy trong kinh ấy thì gọi là “hiển thể”. Nói một cách khác, “hiển thể” một bản kinh chính là minh định chân lý nào sẽ được phô diễn bởi bản kinh ấy.

[7][7] Tướng (Laksana), có nghĩa là hình tướng hoặc trạng thái của các pháp. Nói cách khác, Tướng là những gì có thể nhận thức được bằng giác quan hay suy tưởng. Trong cách phán định kinh điển, Tướng có nghĩa là những phạm vi tác động của một pháp môn hay một bản kinh hoặc phạm vi bao trùm các pháp sẽ được diễn tả bằng bản kinh ấy.

[8][8] Đế (satya) có nghĩa là chân thật, không dối, chỉ cho sự thật vĩnh viễn không biến đổi, Đế chính là tên gọi khác của chân lý. Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 17 giảng: “Các Lý pháp do đức Như Lai đã nói chân thật chẳng dối nên gọi là Đế”.

[9][9] Tướng độ: Cõi Tịnh Độ được nhận biết qua mặt sự tướng, tức các cõi Phàm Thánh Đồng Cư và Phương Tiện Hữu Dư.

[10][10] Như (Tathā) còn gọi là Như Như, Chân Như, Như Thật, chính là bản tánh chân thật bất biến của hết thảy vạn vật. Bởi lẽ, vạn vật tuy có đủ mọi tánh chất khác biệt, nhưng những tánh chất chỉ là những tánh riêng biệt được cảm nhận qua lăng kính chấp trước chứ không phải là thật sự có. Hết thảy mọi vật đều lấy Không làm Thể nên bản tánh (thật tánh) của các pháp được gọi là Pháp Tánh, hoặc Chân Như hoặc Thật Tế.

[11][11] Tức bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sớ của đại sư Thanh Lương Trừng Quán.

[12][12] A-tăng-kỳ (Asamkhya) còn được phiên âm là A Tăng Xí Da, Tăng Kỳ, dịch nghĩa là Bất Khả Toán Số, Vô Lượng Số, hoặc Vô Ương Số. Theo kinh Tăng Nhất A Hàm. Một A-tăng-kỳ là một ngàn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn triệu (chín chữ Vạn). Thế nhưng, theo Đại Tỳ Bà Sa Luận, quyển 177, lại có ba loại A-tăng-kỳ:

1. Kiếp A-tăng-kỳ lấy một kiếp làm một A-tăng-kỳ.

2. Sanh A-tăng-kỳ tức là trong mỗi một kiếp trải quả vô số đời.

3. Diệu hạnh A-tăng-kỳ tức là trong mỗi một kiếp tu hành vô số diệu hạnh.

Luận Tỳ Bà Sa cho rằng hành nhân phải tu tập trọn đủ cả ba loại A-tăng kỳ như thế mới thành Vô Thượng Chánh Giác. Do vậy, ngoài cách giải thích thông thường “tam A-tăng-kỳ là thời gian tu tập trải qua ba A-tăng-kỳ”, còn có qua điểm giải thích “tam kỳ” chính là tu tập trọn đủ ba loại A-tăng-kỳ như luận Tỳ Bà Sa đã giảng.

[13][13] A Già Đà (Agada) còn phiên là A Yết Đà hoặc A Kiệt Đà, có nghĩa là Kiện Khang, Trường Sanh Bất Tử, Vô Bệnh, Phổ Khứ (trừ khử khắp mọi thứ bệnh), Vô Giá là một loại thuốc linh nghiệm có khả năng trị mọi thứ bệnh.

[14][14] Theo phẩm Tỳ Lô Giá Na (tức phẩm thứ sáu) kinh Hoa Nghiêm, vào đời quá khứ, trong thế giới Thắng Âm thuộc thế giới hải Phổ Môn Tịnh Quang Minh có rừng Ma Ni Hoa Chi Luân, trong rừng ấy có đạo tràng tên Bảo Hoa Biến Chiếu, trong đạo tràng ấy lần lượt mười Tu Di sơn vi trần số Như Lai xuất hiện trong cõi đời. Đức Phật thứ nhất tên là Nhất Thiết Công Đức Sơn Tu Di Thắng Vân. Khi ấy, Đại Oai Quang là thái tử của Chuyển Luân Vương Hỷ Kiến Thiện Huệ, do thấy quang minh liền chứng đắc mười thứ pháp môn. Sau đó, nghe Phật giảng pháp bèn chứng vô tận môn tam-muội.

[15][15] Đây là hai mươi mốt môn Niệm Phật giải thoát được ngài Đức Vân tỳ-kheo nói tới trong phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm khi Thiện Tài đến học hỏi về pháp giải thoát. Hai mươi mốt môn Niệm Phật ấy chính là Trí Quang Phổ Chiếu Niệm Phật, Linh Nhất Thiết Chúng Sanh Niệm Phật, Linh An Trụ Lực Niệm Phật, Linh An Trụ Pháp Niệm Phật, Chiếu Diệu Chư Phương Niệm Phật, Nhập Bất Khả Kiến Xứ Niệm Phật, Trụ Ư Chư Kiếp Niệm Phật, Trụ Nhất Thiết Thời Niệm Phật, Trụ Nhất Thiết Sát Niệm Phật, Trụ Nhất Thiết Thế Niệm Phật, Trụ Nhất Thiết Cảnh Niệm Phật, Trụ Tịch Diệt Niệm Phật, Trụ Viễn Ly Niệm Phật, Trụ Quảng Đại Niệm Phật, Trụ Vi Tế Niệm Phật, Trụ Trang Nghiêm Niệm Phật, Trụ Năng Sự Niệm Phật, Trụ Tự Tại Niệm Phật, Trụ Tự Nghiệp Niệm Phật, Trụ Thần Biến Niệm Phật, Trụ Hư Không Niệm Phật.

[16][16] Thủy Thanh Châu là một loại ngọc theo truyền thuyết có khả năng khiến cho nước đục biến thành trong. Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự có đoạn nói về Thủy Thanh Châu như sau: “Thanh châu đầu ư trược thủy, trược thủy bất đắc bất thanh. Niệm Phật đầu ư loạn tâm, loạn tâm bất đắc bất Phật. Tây thiên hữu bảo, danh viết Thanh Châu. Vị thử châu đầu nhập trược thủy trung, nhập thủy nhất thốn, tắc nhất thốn chi trược thủy tức tiện thanh khiết. Thử châu nhập thủy, tự thốn chí xích, nãi chí ư để, tắc trược thủy diệc tùy chi nhi trừng trạm” (Thanh châu gieo vào nước đục, nước đục chẳng thể không trong; niệm Phật gieo vào tâm loạn, tâm loạn không thể không thành tâm Phật. Tây Vực có vật báu tên là Thanh Châu. Loại châu này gieo vào nước đục, chìm xuống nước một tấc thì một tấc nước đục liền thành thanh khiết. Châu ấy gieo vào nước từ tấc tới thước, cho đến tận đáy thì nước đục cũng lặng trong theo.)

[17][17] Tùy Thuận Nhẫn (Anulomikī-dharma-ksānti) là tên gọi khác của Nhu Thuận Nhẫn. Nhẫn này còn có tên gọi khác là Tư Duy Nhu Thuận Nhẫn, hàm nghĩa Huệ tâm nhu nhuyễn, có thể tùy thuận chân lý. Nói cách khác, Nhu Thuận là tâm mềm mỏng, trí thuận thảo, chẳng trái nghịch lý Thật Tướng. Nhẫn là an trụ nơi địa vị ấy. Trong bài giảng về cuốn Di Đà Sớ Sao Diễn Nghĩa, Hòa Thượng Tịnh Không giảng khái niệm này rất dễ hiểu như sau: “Tùy Thuận Nhận là đối với hết thảy sự việc, quan hệ, hoàn cảnh đều có thể tùy thuận, tức là không khởi lên phân biệt, chấp trước”.

[18][18] Khải giáo: khơi gợi, giảng giải giáo pháp hoặc là người thỉnh cầu Phật, Bồ Tát, thiện tri thức giảng giải giáo pháp.

[19][19] Tam khoa là Uẩn, Xứ, Giới (hay còn gọi là Ấm, Nhập, Giới), tức:

1. Ngũ Uẩn.

2. Thập Nhị Xứ (Thập Nhị Nhập) tức sáu Căn phối hợp với sáu Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc).

3. Thập Bát Giới: tức đem sáu căn phối hợp với sáu trần và sáu thức.

[20][20] Theo kinh Lăng Nghiêm, Sắc Pháp và Tâm Pháp xét về thể tánh chia ra thành bảy loại lớn (Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức). Địa, Thủy, Hỏa, Phong và Không là thể tánh của Sắc Pháp. Đại có nghĩa là trọn khắp pháp giới. Vạn pháp sanh thành chẳng rời khỏi bốn Đại đầu, nương vào hư không (Không đại) để kiến lập. Do Kiến mà cảm nhận, do Thức mà hay biết. Năm Đại đầu, phi tình cũng có, nhưng hai Đại sau chỉ hữu tình mới có. Nói cách khác, Địa là tánh chất cứng chắc, Hỏa là tánh chất ấm áp, Thủy là tánh chất thấm ướt, Phong là tánh chất di động, Không là tánh chất không ngăn ngại, Kiến đại là tánh cảm nhận, hiểu biết, Thức đại là tánh phân biệt. Năm Đại đầu thuộc về Lục Cảnh, Kiến Đại nương tựa vào Ý căn, Thức Đại nương tựa vào sáu thức (theo từ điển Phật Quang Sơn).

[21][21] Như Lai Tạng (Tathāgata-garbha) chỉ bổn tánh thanh tịnh Như Lai Pháp Thân (tự tánh thanh tịnh) ẩn kín trong cái tâm phiền não của chúng sanh, chẳng bị phiền não ô nhiễm, trọn đủ bản tánh vĩnh viễn bất biến tuyệt đối thanh tịnh. Do ẩn kín, chưa hiển lộ nên gọi là Tạng.

[22][22] Chỉ (Śamatha), còn phiên âm là Xa Ma Tha, hoặc Sá Ma Tha, hoặc dịch là Chỉ Tịch, Đẳng Quán, là danh xưng khác của Thiền Định. Chỉ có nghĩa là dứt hết mọi suy lường, dồn tâm chuyên chú vào một cảnh. Từ khái niệm này tông Thiên Thai đem phối hợp với Không, Giả, Trung lập ra ba thứ Chỉ, rồi lại phân biệt ra rất nhiều môn Chỉ rất phức tạp, sợ phiền phức nên không ghi vào đây.

[23][23] Thanh (Śabda) là những âm thanh, là đối tượng cảm nhận của Nhĩ Căn, là một trong sáu trần.

Danh (Nāman) là danh xưng. Duy Thức Học giải thích Danh là những âm thanh xưng hô có tác dụng khiến cho người nghe hình dung được hình tướng của sự vật. Do mỗi một Danh thường liên quan đến một nội dung xác định nên còn gọi là “danh nghĩa”. Câu Xá Luận còn chia Danh ra những khái niệm Danh, Danh Thân, Đa Danh Thân như sau: Những từ ngữ chỉ có một chữ thì gọi là Danh như Sắc, Hương v.v… Những từ ngữ gồm hai chữ gộp lại thì gọi là Danh Thân, ba chữ trở lên thì gọi là Đa Danh Thân.

Cú nghĩa (Padārtha): những nghĩa lý được phân biệt, chọn lựa dựa theo từng câu nói, hay những nghĩa lý được trình bày bởi một câu nói. Một cách giải thích khác là: Cú là quan niệm, tức những sự vật được hiển thị trong nội dung của quan niệm ấy gọi là Nghĩa. Khái niệm Cú Nghĩa rất gần với khái niệm “phạm trù” trong triết học Tây Phương. Triết học Ấn Độ cũng gọi những loại lớn trong cách phân loại những nguyên lý, đặc tánh của sự vật là Cú Nghĩa. Chẳng hạn phái Thắng Luận chia những nguyên lý của vạn hữu thành mười Cú Nghĩa.

Do Thanh, Danh, Cú Nghĩa đều nằm trong phạm vi đối đãi, còn phân biệt, chưa đạt đến mức độ Pháp Không nên chỉ được coi là thuộc phạm vi Tiểu Thừa.

[24][24] Tức bốn đại châu: Diêm Phù, Tây Ngưu, Đông Thắng và Bắc Câu.

[25][25] Nguyên văn “Đao thuyền” một loại thuyền nhỏ có hình dáng thon dài như chiếc dao thường dùng để bơi trong sông nhỏ.

[26][26] Thọ Dụng Phật là chính là Thọ Dụng Thân (Sambhoga-kāya) của Phật. Tức là thân viên mãn hết thảy công đức, trụ trong cõi nước thuần tịnh, thường hưởng pháp lạc nên gọi là Thọ Dụng, chia thành hai loại:

1. Tự Thọ Dụng: tức thân Phật vô biên công đức, sắc thân thường trọn khắp, vô lượng phước trí để hưởng dụng pháp lạc, còn gọi là Thật Trí thân, do thức thứ tám vô lậu tương ứng với Đại Viên Kính Trí biến thành. Đây là thân cảm bởi sự tu các hạnh tự lợi trong khi tu nhân. Do vậy, thân này còn gọi là Báo Thân.

2. Tha Thọ Dụng: thân công đức thanh tịnh vi diệu do Bình Đẳng Tánh trí biến hiện để các căn tánh thuộc địa vị Thập Địa chiêm ngưỡng được, khiến họ hưởng thụ pháp lạc. Do vậy thân này đôi khi còn gọi là Ứng Thân.

[27][27] Ðây là các loại thuyền xưa phân định theo quan tước, phẩm trật. Thuyền của vua ngự gọi là Tạo Thuyền. Dùng bốn chiếc kết lại thì  gọi là Duy Thuyền, dành cho tước Hầu trở lên. Hai chiếc kết lại gọi là Phương Thuyền, dành cho hàng đại phu. Thuyền chỉ một chiếc thì gọi là Đặc Thuyền dành cho bậc nhân sĩ. Xin lưu ý đừng hiểu lầm ý Ngài Tục Pháp, khi nói Trì Danh chỉ là Thanh Văn thừa ở đây là nói cách Trì Danh thông thường của pháp Thanh Văn, chứ không phải pháp Trì Danh Niệm Phật Viên Thông của ngài Thế Chí.

[28][28] Tập Ấm là một quy chế theo đó con của quan lại được thừa hưởng tước hiệu và quan vị của cha sau khi cha đã mất. Theo quy chế từ đời Minh, những người được tập ấm gọi là Ấm Sinh chỉ được hưởng tước hiệu, chứ không hưởng quan vị, và được cho học Quốc Tử Giám rồi mới bổ làm quan theo đúng khả năng.

[29][29] Đăng Địa: Bồ Tát đã chứng từ địa vị Sơ Địa trở lên.

[30][30] Tất Cánh Không (Atyanta-śūnyatā), còn dịch là Chí Cánh Không, là một trong mười tám thứ Không được kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật nói tới. Tất Cánh Không có nghĩa là các pháp rốt ráo chẳng thể được, nhằm phá rỗng toang các pháp chẳng còn để sót gì. Trí Độ Luận quyển 18 phân biệt giữa Tất Cánh Không và Tánh Không như sau: Tất Cánh Không là không còn gì sót thừa, trong khi Tánh Không là bản tánh vốn thường như thế. Nói cách khác, Tất Cánh Không là chẳng chấp trước vào một vật nào, ba đời thanh tịnh. Các pháp do các duyên hòa hợp, dường như có, nhưng nếu các duyên tách rời thì chẳng có thể tánh, đó là Tánh Không.

[31][31] Hữu Tác: Có tạo tác, đối lập với Vô Tác. Vô Tác không phải là không làm gì hết mà là làm các thiện sự nhưng không chấp trước, không thấy có người làm, hành vi được làm, không mong cầu quả báo tốt đẹp v.v… Do Hữu Tác là chấp trước, mong cầu nên quả báo của nó là hữu hạn, nhỏ hẹp, nên mới nói “cuối cùng sẽ thành bại hoại”

[32][32] Tứ Không (bốn thứ Không) có hai cách hiểu:

1. Theo Đại Phương Quảng Đại Tập Kinh và Đại Phẩm Bát Nhã Kinh thì Tứ Không nhằm để phá sự chấp trước nơi Có của chúng sanh, gồm:

a. Pháp Pháp Tướng Không (Pháp Tướng Không): Phá tướng Có của các pháp như Ngũ Uẩn. Toàn bộ những pháp hữu vi hay vô vi đều gọi là “pháp tướng”. Pháp tướng ấy không có thật pháp, không có thực thể, giống như ánh nắng dợn đầu Xuân, thấy dường như có nước nhưng thật sự chẳng có nước.

b. Vô Pháp Vô Pháp Tướng Không (Vô Pháp Tướng Không): Phá trừ kiến chấp thấy Vô Tướng. Vô Tướng vốn không có thực thể, chỉ do phá trừ Hữu Tướng mà thành lập, chứ không có tự tánh. Hữu Tướng đã không thì Vô Tướng cũng chẳng có tướng!

c. Tự Pháp Tự Pháp Tướng Không (Tự Pháp Không): pháp tánh và tự thể của hai thứ không trên đây vắng lặng, chứ không phải vì hành nhân gắng sức vận dụng trí huệ để quán tưởng mà chúng trở thành Không!

d. Tha Pháp Tha Pháp Tướng Không (Tha Pháp Không): Chúng sanh tuy trước đấy đã nghe nói về pháp tánh và pháp Thật Tế, nhưng lại chấp trước rằng những pháp hữu dư ở ngoài là có, nên gọi là Tha Pháp. Nay để phá chấp bèn quán Chân Như trọn không có pháp nào khác, không có tướng của pháp nào khác.

2. Theo phẩm Pháp Cúng Dường trong kinh Duy Ma Cật thì Tứ Không là Không (pháp không có tướng nhất định), Vô Tướng (pháp không có tướng nhân duyên), Vô Tác (pháp không có tướng mà cũng chẳng tạo quả), Vô Khởi (pháp không khởi lên).

[33][33] Tam Hiền: Ba địa vị trước khi đạt đến Thập Địa, tức Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng.

[34][34] Thập thân là mười thân của đức Như Lai như phẩm Ly Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm đã minh định: Bồ Đề thân (thân Phật thị hiện tám tướng thành đạo), Nguyện thân (thân Phật nguyện sanh vào trời Đâu Suất), Hóa thân (thân sanh trong vương cung), Trụ Trì thân (thân xá-lợi sau khi nhập diệt nhằm duy trì Phật pháp), Tướng Hảo Trang Nghiêm thân (thân Phật có đủ vô lượng tướng hảo trang nghiêm), Thế Lực thân (thân dùng từ bi nhiếp khắp hết thảy chúng sanh), Như Ý thân (thân hiện ra trước các Bồ Tát thuộc địa vị địa tiền hay địa thượng), Phước Đức thân (thân Phật thường trụ trong tam muội), Trí thân (tức bốn Trí như Đại Viên Kính Trí v.v…), Pháp Thân (bản tánh của Trí thân).

[35][35] Bản kinh này có tên gọi đầy đủ là Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh (Viśesacintabrahma-pariprcchā), bốn quyển, do ngài Cưu Ma La Thập dịch. Trong kinh này đức Phật giảng cho các vị Bồ Tát và Tư Ích Phạm Thiên về lý “các pháp không tịch”. Kinh này còn có các bản dịch khác với danh xưng Trì Tâm Phạm Thiên Sở Vấn Kinh (do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào thời Tây Tấn), Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn Kinh (do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào thời Bắc Ngụy). Thiên Thân Bồ Tát đã viết Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn Kinh Luận (do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch) để chú giải kinh này. Ngoài ra, kinh này còn các bản chú giải khác như Trì Tâm Phạm Thiên Kinh Lược Giải (do ngài Đạo An soạn), Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh Giản Chú (do Viên Chứng soạn) v.v…

[36][36] Theo phẩm Đại Bố Thí và phẩm Bồ Tát Thọ Ký của kinh Bi Hoa, trong hằng hà sa số A Tăng Kỳ kiếp về quá khứ, có một thế giới Phật tên là San Đề Lam, trong cõi ấy có Chuyển Luân Vương tên Vô Tránh Niệm. Vua có một đại thần tên là Bảo Hải rất tài trí. Bảo Hải có một người con tên Bảo Tạng, xuất gia trở thành Phật. Vua Vô Tránh Niệm cùng một ngàn vương tử hoan hỷ nghe Phật giảng pháp, bèn phát nguyện. Bảo Tạng Phật bèn thọ ký cho vua sẽ thành Phật trong tương lai hiệu là A Di Đà. Con trưởng của vua là thái tử Bất Thuấn cũng phát ra thệ nguyện rộng lớn, được Phật thọ ký sẽ thành Bồ Tát hiệu Quán Thế Âm, làm Phật nối ngôi của A Di Đà Phật. Vương tử thứ hai do được ngài Bảo Hải khuyên lơn, cũng phát đại nguyện được Phật đặt hiệu là Đắc Đại Thế (một cách dịch khác của chữ Đại Thế Chí), rồi thọ ký sẽ thành Phật sau khi ngài Quán Âm nhập diệt. Các vương tử còn lại đều lần lượt phát nguyện và được đặt các danh hiệu như Văn Thù, Phổ Hiền v.v…

[37][37] Trí Đoạn: có thể hiểu theo hai nghĩa:

1. Dùng trí huệ Bát Nhã để đoạn trừ phiền não.

2. Trí Đoạn là nói gộp của Trí Đức thì gọi là Đoạn Đức, tức Niết Bàn.

Theo ngu ý, ở đây phải hiểu Trí Đoạn theo nghĩa thứ hai.

[38][38] Thời cổ coi ngồi ở hướng Bắc ngoảnh mặt về phương Nam (“tọa Bắc triều Nam” hoặc “Nam diện”) là tôn quý, nên thiên tử, chư hầu, các đại phu khi tiếp bầy tôi đều ngồi ở phương Bắc ngoảnh mặt về phương Nam, nhằm tỏ sự tôn quý. Sau đời Tần Thủy Hoàng chỉ mình thiên tử được quyền ngồi như thế.

[39][39] Vô Nhiệt Não (Anavatapta) còn được phiên âm là A Nậu Đạt, A Na Đạt hoặc A Na Bà Đáp Đa, dịch nghĩa là Thanh Lương Trì hoặc Vô Nhiệt Não. Theo Đại Tỳ Bà Sa Luận, quyển 15 và Câu Xá Luận quyển 11, ao này chính nằm ở phía Bắc của Đại Tuyết Sơn, nằm phía Nam của Hương Túy Sơn (nay là núi Kailana), kích thưóc rộng đến tám trăm dặm, dùng bốn báu làm bờ. Ao này là phát nguồn của bốn con sông Hằng, Tín Độ (Sindhu), Phược Sô (Vaksa), và Tỷ Đa (Śītā). Nếu nhìn bằng mắt tục nhân, chỉ thấy ao này là một vùng tuyết mênh mông vĩnh cửu.

[40][40] Thỉ Giác: do tu tập, dần dần đoạn phá vọng nhiễm từ vô thủy đến nay, thấu hiểu nguồn tâm vốn sẵn có, thì gọi là Thỉ Giác. Do tu hành theo thứ tự, đoạn trừ vô minh, phiền não, trở về với tánh thể thanh tịnh nên gọi là Thỉ Giác (sự giác ngộ đến bây giờ là lúc đã đoạn sạch mọi vô minh mới phát hiện). Còn Bổn Giác là sự giác ngộ sẵn có trong tự tâm, tịch tĩnh, bất động, vô nhiễm gọi là Bổn Giác. Nói cách khác, Thỉ Giác là sự giác ngộ do tu chứng, nhận biết được Bổn Giác. Còn Bổn Giác là cái sẵn có, thường được gọi bằng Tự Tánh Phật, Pháp Thân v.v… Đại Thừa Khởi Tín Luận chia Thỉ Giác thành bốn địa vị:

1. Bất Giác tức địa vị Thập Tín, tuy đã biết do ác nghiệp chiêu cảm khổ quả, không còn tạo tác sự ác nơi thân và miệng, nhưng vẫn chưa sanh khởi được Đoạn Hoặc trí.

2. Tương Tự Giác tức Nhị Thừa thánh nhân và những vị Bồ Tát thuộc địa vị Tam Hiền, tuy đã xa lìa Ngã Chấp, nhận biết lý Ngã Không, nhưng vẫn chưa bỏ được ý niệm phân biệt Pháp Chấp.

3. Tùy Phận Giác: Từ bậc Sơ Địa đến Cửu Địa, hiểu rõ hết thảy các pháp chỉ do tâm biến hiện, nhưng chưa hiểu trọn vẹn lý Chân Như Pháp Thân.

4. Cứu Cánh Giác: Chính là Thập Địa Bồ Tát.

[41][41] Theo kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới, Giải Thoát Trưởng Giả là vị thiện tri thức thứ năm trong năm mươi ba vị thiện tri thức mà Thiện Tài đồng tử đến tham học. Vị trưởng giả này dạy cho Thiện Tài môn tam-muội Như Lai Vô Ngại Trang Nghiêm Giải Thoát.

Báo Lỗi




 
 
 
 
 
 
 
 
 

web analytics